Thứ Ba, 16 tháng 6, 2020

Thơ tình Andrei Bely


TÌNH YÊU 

Giờ dịu êm. Sóng vỗ dưới bàn chân 
Em mỉm cười, thì thầm lời giã biệt: 
“Mình gặp lại nhau… trước ngày hẹn gặp…” 
Hai đứa mình đều hiểu đấy dối gian. 

Rằng chúng mình vĩnh biệt đến ngàn năm 
Cả bầu trời cháy lên màu đỏ thắm 
Những cánh buồn trên con tàu nổi giận 
Tiếng hải âu kêu trên sóng dập dờn. 

Anh nhìn xa, ngực nhói một nỗi buồn 
Trên con tàu giữa hoàng hôn rẽ sóng 
Như chim thiên nga giăng ra đôi cánh 
Giữa dịu dàng, giữa bọt sóng màu lam. 

Và con tàu đi về chốn vô biên. 
Giữa nền trời một màu vàng tái nhợt 
Bỗng hiện ra một đám mây mờ mịt 
Và bừng cháy lên màu tím thạch anh. 
1901

Любовь

Был тихий час. У ног шумел прибой.
Ты улыбнулась, молвив на прощанье:
"Мы встретимся... До нового свиданья..."
То был обман. И знали мы с тобой,

что навсегда в тот вечер мы прощались.
Пунцовым пламенем зарделись небеса.
На корабле надулись паруса.
Над морем крики чаек раздавались.

Я вдаль смотрел, щемящей грусти полн.
Мелькал корабль, с зарею уплывавший
средь нежных, изумрудно-пенных волн,
как лебедь белый, крылья распластавший.

И вот его в безбрежность унесло.
На фоне неба бледно-золотистом
вдруг облако туманное взошло
и запылало ярким аметистом.


GỬI ASYA 
(Trong lần giã biệt) 

Màu thanh thiên bỗng tái nhợt xanh xao 
Những tảng đá như đang nhìn vào bóng 
Từ trong đêm đen chuyển vào ngày nắng 
Những đỉnh núi cao ánh sáng lập lòe. 

Ngày nối theo ngày, giờ tiếp theo giờ 
Thời gian gắn hai ta vào muôn thuở 
Đôi con mắt của em như rực lửa 
Lửa rực trong bờ mi vẫn khép hờ. 

Người bạn thủy chung, cuối cùng, muôn thuở 
Đừng trách chi sự im lặng của anh 
Trong im lặng có sợ hãi, đau buồn 
Và hiểu biết của tình không thể tả. 
1916

Асе (Лазурь бледна...)
    (При прощании с ней)

Лазурь бледна: глядятся в тень
Громадин каменные лики:
Из темной ночи в белый день
Сверкнут стремительные пики.

За часом час, за днями дни
Соединяют нас навеки:
Блестят очей твоих огни
В полуопущенные веки.

Последний, верный, вечный друг,-
Не осуди мое молчанье;
В нем - грусть: стыдливый в нем испуг,
Любви невыразимой знанье.


GỬI MẸ

Bước ra từ ngôi mộ
Không ai đón chào tôi
Không ai: chỉ bụi cây
Gật đầu cành lá nhỏ.

Tôi ngồi lên bia mộ
Bây giờ biết đi đâu?
Ngọn lửa tắt từ lâu
Mang theo đi đâu đó.

Ngôi mộ gọi mọi người
Họ quên từ ngày đó.
Người yêu tôi một thuở
Giờ không nhận ra tôi.

Tôi dọa họ bóng đêm
Tôi gõ – họ đóng cửa
Ở đây có mưa đá
Nắp vỡ chẳng trùm lên.

Trốn dưới tấm lát ngoài
Đây nấm mồ của mẹ
Mẹ dùng vòng hoa vỡ
Khóc cho đứa con trai.
1907

Матери

Я вышел из бедной могилы.
Никто меня не встречал —
Никто: только кустик хилый
Облетевшей веткой кивал.

Я сел на могильный камень...
Куда мне теперь идти?
Куда свой потухший пламень —
Потухший пламень... — нести.

Собрала их ко мне — могила.
Забыли все с того дня.
И та, что — быть может — любила,
Не узнает теперь меня.

Испугаю их темью впадин;
Постучусь — они дверь замкнут.
А здесь — от дождя и градин
Не укроет истлевший лоскут.

Нет. — Спрячусь под душные плиты.
Могила, родная мать,
Ты одна венком разбитым
Не устанешь над сыном вздыхать.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét