Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ Ba Lan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ Ba Lan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

Thơ tình Stanisław Lec


Trích tác phẩm Những ý nghĩa không trau chuốt

* Nie znajac obcego jezyka nie zrozumiesz nigdy milczenia cudzoziemcow.
Không biết tiếng nước ngoài thì bạn không bao giờ hiểu được sự im lặng của người ngoại quốc.

* Zyc jest bardzo niezdrowo. Kto zyje ten umiera.
Sống là có hại cho sức khỏe. Ai sống – người đó chết.

* Koniom i zakochanym inaczej pachnie siano.
Đối với những kẻ yêu nhau và những con ngựa, mùi cỏ khô nghe rất khác nhau.

* Gdy zapachniaіy fioіki, rzeklo іajno: "No cуz, dziaіaja tanim kontrastem!"
Khi hoa tím tỏa mùi hương thì phân trong chuồng nói rằng: “Chúng nó làm việc theo hợp đồng giá rẻ”.

* Tylko wtedy mozna interesowac sie gownem, gdy jest nawozem.
Người ta chỉ quan tâm đến cứt khi nó thực sự là phân.

* I brak precedensu jest precedensem.
Sự thiếu tiền lệ là tiền lệ.

* Z raju wygnano przeciez jedynie Adama i Ewe. A jak sie stamtad wydostaly na wolnosc lwy, orly, malpy, pchly itd. A nawet jablka?
Chỉ Adam và Eva bị đuổi khỏi thiên đàng. Thế làm sao mà đại bàng, sư tử, khỉ, bọ chét… cũng thoát ra được. Thậm chí cả những quả táo?!

* Gdy krzykna: "Niech zyje postep!" - pytaj zawsze: "Postep czego?"
Nếu nghe người ta hô: “Sự tiến bộ muôn năm!” – thì bạn hãy hỏi xem: “Sự tiến bộ của cái gì?”

* Pion z poziomem maja z soba krzyz.
Chiều thẳng đứng và chiều ngang làm thành cây thập ác.

* Bosy nie stapa po rozach.
Chân trần không đi trên hoa hồng

* Okno na swiat mozna zaslonic gazeta.
Cửa sổ nhìn ra thế giới có thể dùng báo để che lại.

* To, ze umarі, nie jest jeszcze dowodem, ze zyl.
Cái chết không phải là sự chứng minh rằng anh đã sống.

* Jak pies sluzyl, jak psa ubili.
Hắn đã phục vụ như chó và bị người ta giết như chó.

* Bezsilna wscieklosc dokonuje cudow.
Sự điên cuồng bất lực sinh ra điều kỳ diệu.
* Wiecznosc? Jednostka czasu.
Vĩnh hằng là một đơn vị tính thời gian.

*Prawdziwy wrog nigdy cie nie opusci.
Kẻ thù đích thực của bạn không bao giờ bỏ rơi bạn.

* Sumienie rodzi sie czasem z jego wyrzutow.
Đôi khi lương tâm sinh ra do sự cắn rứt lương tâm.

*Kazdy wiek ma swoje sredniowiecze.
Mỗi thế kỷ đều có thời trung cổ của mình.

* Owca, co miala zlote runo, nie byla bogata.
Con cừu có bộ lông vàng chưa bao giờ giàu.

* Gdy plotki sie starzeja, staja sie mitami.
Huyền thoại là những điều đơm đặt cổ xưa. (Khi chuyện đơm đặt về già, chúng trở thành huyền thoại).

* I pomyslec, ze na tym ogniu, kktory ukradl Prometeusz bogom, spalono Giordana Bruno!
Cần suy nghĩ! Cái ngon lửa mà Prometheus ăn cắp của các vị thần, người ta đã dùng để thiêu sống Giordano Bruno!

* Czasem diabel mnie kusi, by uwierzyc w Boga.
Đôi khi quỉ sứ làm tôi tin vào Chúa.

* Zwracaj sie zawsze do bogow obcych. Wysluchja cie poza kolejka.
Nên cầu nguyện Bụt không phải chùa nhà. Họ để ý nghe bạn trước.

* Kto w piekle mial szlify - i w niebie nosi akselbanty.
Ai ở địa ngục từng có cầu vai thì người đó trên thiên đàng dây tua sẽ có.

* Idealisci pragna materializacji duchow.
Những kẻ duy tâm ao ước được vật chất hóa tinh thần.

* Cen slowa! Kaazde moze byc twoim ostatnim.
Hãy quí lời! Anh không biết lời nào là lời cuối của anh đâu.

* Strzezcie sie tych botanikow, co twierdza, ze drzewo poznania rodzi korzenie zla.
Hãy coi chừng những nhà thực vật học nói rằng nguồn gốc của cái ác là từ cây nhận thức.

* Nie badz snobem. Nie klam nigdy, gdy prawda sie lepiej oplaca.
Chớ phù phiếm! Đừng bao giờ nói dối một khi sự thực có lợi hơn.

* Tam gdzie smiecg wzbroniony, zwykle i plakac nie wolno.
Nơi người ta cấm tiếng cười thì khóc cũng không được phép.

* Mowie rzeczy tak stare, ze ludzkosc juz ich nie pamieta.
Tôi nói những điều xưa cũ mà loài người đã không còn nhớ.

* Jak cwiczyc pamiec, by umiec zapominac?
Làm sao luyện được trí nhớ để học quên.

* Sa czasy, kiedy ludzie mowiac przez sen, klamia.
Có một thời mà người ta nói dối cả trong giấc ngủ.

* Gdy sie mit zamienia w rzeczywistosc, czyje to zwyciestwo - materialistow, czy idealistow?
Khi truyền thuyết trở thành hiện thực thì ai thắng: những kẻ duy tâm hay duy vật?

* Stosy nie rozswietlaja ciemnosci.
Lửa trại không xua được bóng đêm

* Slepej wierze zle patrzy z oczu.
Lòng tin mù quáng có đôi mắt độc.

* I Judasze nauczyli sie nosic krzyze.
Những kẻ phản bội (Giu-đa) cũng học cách vác cây thập ác của mình

* Zeby byc soba, trzeba byc kims.
Để trở thành chính mình thì cần trở thành một ai đó.

* "Jak nalezy sie zachowac"- pytal mnie moj znajomy - "gdy znajdzie sie u siebie przyjaciela zony w lozku z obca kobieta?"
“Biết xử sự thế nào – một người quen của tôi hỏi – nếu như gặp trong nhà mình người tình của vợ mình đang trên giường cùng một phụ nữ xa lạ?”

* Chcialem powiedziec swiatu tylko jedno slowo. Poniewaz tego nie potrafilem, stalem sie pisarzem.
Tôi muốn nói với thiên hạ một lời. Nhưng vì không làm được điều này nên đã trở thành nhà văn.

* Zmartwychwstac moga jedynie trupy. Zywym trudniej.
Chỉ người chết có thể hồi sinh. Người đang sống khó hơn nhiều.

* Gdy nie ma sie z czego smiac, rodza sie satyrycy.
Khi không có gì để cười thì các nhà văn trào phùng được sinh ra.

* "Jestem poeta jutra!" powiedzial. "Pomowiny o tym pojutrze!" odrzeklem.
Anh ta nói: “Tôi là nhà thơ của ngày mai!”. Tôi trả lời: “Ngày kia ta sẽ nói chuyện này”.

* Wszystkie wielkie tragedie maja happy end, ale ktoz potrafi wysiedziec do konca!
Tất cả những bi kịch vĩ đại đều kết thúc có hậu, nhưng ai mà ngồi được đến cùng!

* Pierwszy rzuc kamieniem, inaczej nazwa cie epigonem.
Hãy là người ném đá đầu tiên, nếu không người ta sẽ gọi bạn là kẻ hậu bối.

* Ktoz bada na policzku odciski palcow?
Có ai đi tìm dấu tay sau cái tát bao giờ?

* Postep: praszczurowie nasi w skorach zwierzecych chodzili, nam juz w ludzkiej nieswojo.
Sự tiến bộ: ông cha chúng ta mặc áo quần da thú, còn ta mặc của người mà cảm thấy ngại ngùng.

* Czy wolno mijac sie z prawda? Tak, jesli sie ja wyprzedza.
Liệu có thể đoạn tuyệt với sự thật? Vâng, nếu như bạn đi trước nó.

* Kiedy rodzi sie pesymizm? Gdy zetkna sie dwa odmienne optymizmy.
Chủ nghĩa bi quan sinh ra khi nào? Khi mà hai chủ nghĩa lạc quan khác nhau va chạm.

* A moze mury Jerycha padly od zbytniego decia w fanfary wewnatzr tych murow?
Biết đâu, những bức tường của Jericho bị đổ vì tiếng kèn đồng từ phía bên trong?

* Zebyz miec tylu sluchaczy, ilu podsluchujacych!
Giá mà người nghe cũng đông như người nghe trộm.

* Lubimy, zeby nasz wewnetrzny glos dochodzil nas z zewnatrz.
Ta yêu để cho tiếng nói bên trong ta đến từ bên ngoài.

* Uwazaj: gdy slawa rzuca blask na ciebie, twoi wrogowie maja przewage - czyhaja w cieniu.
Hãy cẩn thận: khi bạn ở trong ánh hào quang thì kẻ thù của bạn có ưư thế là họ ẩn trong bóng tối.

* W niebezpiecznych czasach nie wchodz w siebie, tam cie najlatwiej znajda.
Thời buổi khốn khó chớ đi vào ẩn náu ở trong mình, nơi đó người ta tìm ra bạn dễ dàng hơn.

* Szatani dziela sie na upadlych aniolow i na awansowanych ludzi.
Quỉ sứ chia thành hai loại: những thiên thần đổ đốn và những người được đề cao.

* Ci, co maja szersze horyzonty, maja zazwyczaj gorsze perspektywy.
Viễn cảnh của người ta càng rộng thì tương lai càng hẹp.

* Blad staje sie bledem, gdy rodzi sie jako prawda
Sai lầm sẽ trở thành sai lầm nếu khi sinh ra đã là chân lý.

* Wszystko jest w rekach czlowieka. Dlatego nalezy je myc czesto.
Tất cả ở trong tay người. Bởi thế cần rửa tay thường xuyên.

* Fakt zawsze bedzie nagi, chocby ubrany byl wedlug najnowszej mody.
Thực tế luôn trần truồng dù cho có mặc quần áo thời trang.

* Snil mi sie koszmar: Przerost biurokracji w panstwie, gdzie niedawno ukonczono likwidacje analfabetyzmu.
Tôi mơ thấy điều khủng khiếp: bệnh quan liêu hoành hành ở quốc gia mà người ta vừa diệt xong giặc dốt.

* Glupota jest matka zbrodni. Ale ojcowie sa czesto genialni.
Mẹ của tội ác là sự dốt nát. Nhưng đôi khi cha của nó là thiên tài.

* Trzeba tak pomnozyc mysli, by nie starczylo dla nich dozorcow.
Cần nhân số lượng ý nghĩ đến mức không có đủ người kiểm soát chúng.

* Piekne klamstwo? Uwaga! To juz tworczosc.
Sự giả dối mà đẹp? Thì đấy đã là một sự sáng tạo.

* Nielatwo jest zyc po smierci. Czasem trzeba na to stracic cale zycie.
Không dễ dàng sống sau khi chết. Đôi khi vì điều này mà phải trả giá cả cuộc đời.

* Otyli zyja krocej. Ale jedza dluzej.
Những người béo phì sống không lâu. Nhưng họ ăn nhiều hơn.

* Nawet w jego milczeniu byly bledy jezykowe.
Anh ta mắc lỗi ngữ pháp cả khi im lặng.

* Ona? Nawet okulista nie wyczytalby w jej oczach niczego wiecej niz trzy dioptrie.
Trong đôi mắt nàng ngay cả bác sĩ nhãn khoa cũng không đọc được điều gì ngoài ba đi-ốp.

* Kto ma dobra pamiec, temu latwiej o wielu rzeczach zapomniec.
Ai có trí nhớ tốt, người đó dễ dàng quên nhiều thứ.

* Roze pachna zawodowo.
Hoa hồng tỏa mùi hương một cách chuyên nghiệp.

* Pocalunek Judaszow zamyka usta poetom.
Nụ hôn của kẻ phản bội làm nhà thơ ngậm miệng.

* Tempo! Tempo! Mozna czasem przezyc zycie w jednym dniu. Ale co zrobic z pozostalym czasem?
Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ! Có thể sống cả cuộc đời trong một ngày.
Nhưng mà rồi biết làm gì với thời gian còn lại?

* Nie odwraca sie tylem od rzeczywistosci? Czyzby rzeczywistosc nie
otaczla nas zewszad? Oh!
Đừng quay lưng lại với thực tại ư? Cứ làm ra vẻ như thực tại không vây quanh ta từ mọi phía.

* Zdarza sie, ze chorazy wieje w inna strone niz sztandar.
Người mang cờ đi về hướng khác với lá cờ.

* Mozna otworzyc usta z zachwytu, by zamknac je ziewnieciem.
Có thể há hốc miệng vì kinh ngạc và ngậm miệng lại sau cái ngáp.

* A moze jestesmy jedynie czyims wspomnieniem?
Có thể, ta chỉ là hoài niệm của ai đấy?

* Nie kazdy umie tanczyc do muzyki przyszlosci.
Không phải ai cũng biết nhảy theo điệu nhạc của tương lai.

* Gdy z radosci podskoczysz do gory, uwazaj, by ci ktos ziemi spod nog nie usunal.
Khi bạn nhảy lên vì sung sướng thì hãy để ý xem có ai đào đất ở dưới chân của bạn không.

* Dwie linie rownolegle spotkaja sie w nieskonczonosci - i one w to wierza.
Hai đường thẳng song song sẽ gặp nhau ở vô cùng – chúng vẫn tin như vậy.

* Milosc ojczyzny nie zna granic cudzych.
Tình yêu Tổ quốc không có biên giới.

* Z wielkiej chmury - maly cien? To dziwne!
Một chiếc bóng nhỏ từ đám mây lớn? Thật lạ lùng!

* Sa tacy, co nigdy nie mieli nadziei, i tacy, co wiecznie ja traca.
Một số người chưa bao giờ có những niềm hy vọng, một số khác thì để mất nó mãi mãi.

* Jedni chcieliby zrozumiec to, w co wierza, drudzy uwierzyc w to, co rozumieja.
Một số người này muốn hiểu cái mà người ta tin, còn một số người kia thì tin vào cái mà người ta hiểu.

* Zaludnic swiat jest latwo. Wyludnic swiat jest latwo. Wiec gdzie trudnosc?
Làm cho thế giới đông dân là việc dễ dàng. Làm cho thế giới hoang tàn – còn dễ dàng hơn. Vậy thì đâu là điều khó?

* Samowystarczalni umyslowo sa jedynie geniusze i glupcy.
Chỉ có những thiên tài và những thằng ngu là độc lập về trí tuệ.

* Po stracie zebow podobno wieksza swoboda jezyka.
Nghe nói rằng người bị mất răng thì lưỡi tự do hơn.

* Istniej idealny swiat bez klamstwa, gdzie wszystko jest prawdziwe.
Có một vương quốc lừa dối, nơi mọi thứ có vẻ đều chân thật.

* Tragizm epoki oddaje jej smiech.
Bi kịch của một thời đại được thể hiện trong tiếng cười của thời đại đó.

* Sumienie mial czyste. Nieuzywane.
Lương tâm của anh ta hòan tòan trong sạch. Chưa dùng đến bao giờ.

* Zycie czlowieka konczy sie czasem cudza smiercia.
Nhiều kẻ chưa từng sống cuộc đời mình, họ muốn hưởng cái chết của người khác.

* Zadaje pytania wymijajace, by przeciac droge wymijajacym odpowiedziom.
Tôi đưa ra những câu hỏi loanh quanh để tránh những câu trả lời lảng tránh.

* Nie odstawaj od czasu, bo zranisz tych, co go glaszcza.
Đừng rớt lại sau thời gian kẻo lại làm phật lòng những kẻ chạy đua với nó.

* Niektorzy przerastaja innych o glowe, ktora im odrabali.
Có những kẻ cao hơn những người khác một cái đầu mà chúng đã chặt của họ.

* Legendy burza czesto zadni jej surowca.
Truyền thuyết phá hủy những kẻ đi tìm nguồn gốc của nó.

* Czasem kara pociaga za soba wine.
Đôi khi tội ác là kết quả của sự trừng phạt.

* Boje siк anioіуw, sa dobrzy, zgodza siк byc szatanami.
Tôi sợ thiên thần, vì thiên thần quá dễ thương, sẽ dễ dàng bị người ta gạ trở thành quỉ sứ.

* Szatan musi byc okrutny, zbyt malo czasu daly mu Ewangelie.
Quỉ Sa-tăng phải độc ác. Phúc âm cho nó quá ít thời gian.

* Nawet gdy usta zamknieta, pytanie pozostaje otwarte.
Ngay cả khi ta ngậm miệng thì vấn đề vẫn bỏ ngỏ.

* Bada sie glebie rzucajac w nia kamieniem.
Hãy ném viên đá vào đáy nếu bạn muốn biết độ sâu.

* Po prostu wierzyc sie nie chce, ze klamstwo istnialo przed wynalezieniem druku.
Thật khó mà tin được rằng sự giả dối đã tồn tại trước khi người ta sáng chế ra máy in sách.

* Z czego powstales zalezy od genetyki - w co sie obrocisz, od polityki.
Bạn sinh ra từ đâu, điều này phụ thuộc vào di truyền học, còn bạn trở thành gì – điều này phụ thuộc vào chính trị.

* Ludzie dawniej byli blizsi sobie. Musieli. Bron nie niosla daleko.
Ngày xưa con người ta gần gũi nhau hơn vì họ chưa có vũ khí tầm xa.

* Czasem zbrodnia jest wlasnie alibi.
Đôi khi tình trạng ngoại phạm (alibi) là tội ác.

* Jakze wielu chcialoby siebie samych opuscic w chwilach grozy.
Có khối kẻ muốn đánh mất mình trong lúc nguy hiểm.

* Bolesny jest porod czlowieka, zwlaszcza gdy rodzi siebie sam w wieku
doroslym.
Sinh nở là quá trình đau đớn, đặc biệt là ở tuổi trưởng thành.

* Historia - zbior faktow, ktore nie musialy zajsc.
Lịch sử là tập hợp những sự kiện không đáng xảy ra.

* W historii i fakty nie dokonane sie licza.
Những sự kiện chưa từng xảy ra đều có ý nghĩa đối với lịch sử.

* Pieniadz jest bezwonny, ale siк ulatnia.
Tiền không có mùi nhưng có cánh.

* Trzecia strona medalu? Piers, ktуrej dotyka.
Mặt thứ ba của huân chương ư? Là bộ ngực mà nó đeo vào.

* I cudzy analfabetyzm utrudnia pisanie.
Sự vô học của người khác làm khó nhà văn.

* Nie nalezy wyciagac konsekwencji z blota.
Đừng đi bới rác rưởi để tìm kết luận.

* Dno jest dnem, nwet jesli jest obrocone do gory.
Đáy vẫn cứ là đáy cả khi tất cả đều ở phía trên.

* Czy wyobrazacie sobie kobietк, ktуra daіaby swojemu oblubieсcowi opowiadac przez 1001 nocy bajeczki?
Liệu bạn có thể hình dung mình là người phụ nữ cho phép người tình kể chuyện trong 1001 đêm?

* Nie wysylajcie daltonistow po niebieskie migdaly. Moga wrocic z niczym.
Đừng phái những kẻ bị mù màu đi bắt chim xanh. Họ sẽ trở về tay không đấy.

* Dlaczego pisze takie krotkie fraszki? Bo slow mi brak!
Tại vì sao tôi viết ngắn ư? Tại vì không đủ lời để viết!

* Powiedz mi z kim sypiasz, a powiem ci o kim snisz.
Hãy nói cho tôi biết bạn ngủ với ai, tôi sẽ nói bạn mơ về ai.

* I tylki nosza maski. Ze zrozumialych powodow.
Và mông cũng đeo mặt nạ. Nguyên nhân dễ hiểu.

* Jesli podoba ci sie worek, kup go razem z kotem, ktorego chcieli w nim sprzedac.
Nếu bạn thích cái bao tải thì hãy mua nó cùng với con mèo mà người ta bỏ trong bao ấy.

* Czasem nawet glupi but pozostawia po sobie niezniszczalny slad.
Lắm khi chiếc giày của người ngu để lại dấu vết không phai mờ được.

* Pisarze, nie atramentem, krwia nalezy pisac! Ale nie cudza!
Nhà văn đừng viết bằng mực mà bằng máu! Nhưng không phải của người khác!

* Strzezcie sie tematow od ktorych nie mozna uciec!
Hãy coi chừng những kẻ mà rồi sau không thoát khỏi người ta.

* W kazdym kraju inaczej brzmi pytanie Hamleta.
Câu hỏi của Hamlet ở mỗi quốc gia nghe khác nhau.

* Sa pisarze nieprzetlumaczalni na obce mowy. Tych mozna spokojnie propagowac za granica.
Có những nhà văn không thể dịch được ra tiếng nước ngoài. Chỉ có thể tuyên truyền một cách lặng lẽ cho họ ở nước ngoài.

* Badz realista: nie mow prawdy.
Hãy là người thực tế: đừng nói thật.

* Czasem wawrzyny zapuszczaja korzenie w glowie.
Có khi vòng nguyệt quế đâm rễ vào đầu.

* Sa sztuki tak slabe, ze nie moga zejsc ze sceny.
Có những vở kịch yếu đến nỗi không đủ sức ra khỏi sân khấu.

* Zblizajac sie do prawdy oddalamy sie od rzeczywistosci.
Càng đến gần sự thật chúng ta càng đi xa thực tế.

* Z tchorzostwa przechowywal swoje mysli w cudzych glowach.
Vì nhát gan hắn đã giấu những ý nghĩ của mình trong đầu kẻ khác.

* Prawdziwego mezczyzne poznac, nawet gdy jest goly.
Dễ nhận ra người đàn ông đích thực, ngay cả khi trần truồng.

* Kto wie, co by odkryl Kolumb, gdyby nie stanela na drodze Ameryka.
Ai mà biết Columbus đã tìm ra cái gì nếu như Châu Mỹ không ở trên đường đi của ông.

* Obled chorazego: mysl, ze jest sztandarem.
Bệnh cuồng của người cầm cờ: anh ta nghĩ rằng anh ta là ngọn cờ.

* Nie tworzcie sobie bogow na swoje podobienstwo!
Đừng tạo cho mình thần tượng giống như mình.

* Czas jest nieruchomy. Tylko my sie w nim poruszamy w niewlasciwym kierunku.
Thời gian không chuyển động. Đấy là ta đi trong thời gian và theo hướng khác.

* Co trzyma nas na tym globie prуcz sily ciazenia?
Ngoài sức hút của trái đất, còn điều gì giữ ta lại trên hành tinh này?

* Nie ma bezuzytecznego piekna, istniej chocby po to, by go nienawidzic.
Không có cái đẹp nào vô ích. Cái đẹp tồn tại dù chỉ là để cho người ta căm thù nó.

* Byc swoim wіasnym ministrem spraw wewnetrznych!
Hãy luôn là Bộ trưởng bộ nội vụ của chính mình!

* Najslabsze ogniwo lancucha jest najsilniejszym. Zrywa wiez.
Mắt xích yếu nhất là mắt xích mạnh nhất, vì rằng nó làm cho đứt cả dây xích.

* Tam gdzie wszyscy spiewaja na jedna nute slowa nie maja znaczenia.
Nơi mà tất cả đều hát theo một âm điệu thì ca từ không hề có ý nghĩa.

* Wlasna niemoc jest tak niebezpieczna jak obca przemoc.
Sự bất lực của chính mình cũng nguy hiểm như sự cưỡng bức của người khác vậy.

* "Wracamy zawsze do naszej pierwszej milosci". Moze. Ale w coraz to
innych celach.
“Ta luôn quay về với tình yêu đầu”. Có thể. Nhưng với những mục đích khác nhau.

Thơ tình Giáo Hoàng John Paul II


Bức hoạ thành Rôm phần II - 
Theo sách "Sáng thế ký"

NGÀI (ĐỨC CHÚA TRỜI)

Ta sống, đi lại, hít thở bằng Ngài
Nhưng chẳng lẽ Ngài chỉ là Đức Chúa?
Ngài sáng tạo ra muôn loài, và sau đó
Ngài cho tất cả có hơi thở, cuộc đời
Bàn tay Ngài là trụ đỡ cho những ước mơ.
Ta là nòi giống của Ngài – cuộc đời của Chúa.
Giáo chủ trong dàn đồng ca đứng giữa
Cất giọng hát lên, những lời trong Kinh
Con người hồi tưởng trong buổi hoàng hôn:
"Nhìn thấy Đức Chúa Trời, và đó là tốt đẹp".

Tâm hồn trong đời sáng tỏ nhường kia
Đức Chúa Trời soi sáng cho tất cả
Khởi thuỷ là Lời – Lời mở ra cánh cửa
Ta bước vào – hít thở, sống và đi.

 On

«W Nim żyjemy, poruszamy się i jesteśmy».
Czy On jest tylko przestrzenią bytowania bytujących?
Jest Stwórcą.
Ogarnia wszystko stwarzając i podtrzymując w istnieniu —
Sprawia podobieństwo.
Gdy Paweł apostoł przemawia na Areopagu
wyraża się w jego słowach cała tradycja Przymierza.
Dzień każdy kończył się tam słowami:
«I widział Bóg, że było dobre».

Widział, odnajdywał ślad swojej Istoty —
Znajdował swój odblask we wszystkim co widzialne.
Przedwieczne Słowo jest jak gdyby progiem,
za którym żyjemy, poruszamy się i jesteśmy.


CON NGƯỜI (TÔI) 

Kêu lên trong sáng tạo của mình:
- "Hoan hô!"
Nhưng lịch sử trái ngược với ý muốn của ai?
Thế kỉ hai mươi thật vô cùng khiếp đảm!
Có thể chỉ là thế kỷ hai mươi?
Nhưng chân lý trăm năm không hạ mình tranh luận.
Và hình dáng, sự tương tự - của Ngài!

Người làm thuê của chân lý – thầy Buonarroti(1)
Suốt cả đời những gian phòng ở Vatican đã vẽ
Và chỉ mở cửa ra đi, ngôi nhà từ giã
Sau khi đã vẽ xong nhà thờ Sistina(2).

"Và Ngài đã tạo ra
Con người theo hình của Chúa
Ngài đã tạo ra
Đàn ông và phụ nữ
Ngài đã tạo ra họ.
Và cả hai đều trần truồng
Và không hề xấu hổ".
Và Đức Chúa Trời khi đó
Ngắm nhìn những gì Ngài đã tạo ra
Và nói: "Tất cả đều tốt đẹp cả mà!"

Không một sinh linh nào tránh khỏi con mắt Ngài
Trước mắt Ngài tất cả đều sáng tỏ.

Człowiek (Ja)

Dlaczego o tym właśnie jedynym dniu powiedziano:
«Widział Bóg, że wszystko, co uczynił, było bardzo dobre»?
Czy temu nie przeczą dzieje?
Choćby nasz wiek dwudziesty! I nie tylko dwudziesty!
A jednak żaden wiek nie może przesłonić prawdy
o obrazie i podobieństwie.

Michał Anioł
Z tą prawdą kiedyś zamknął się w Watykanie,
aby wyjść stamtąd, pozostawiając Kaplicę Sykstyńską.
«Stworzył więc Bóg człowieka na swój obraz,
na obraz Boży go stworzył,
mężczyzną i niewiastą stworzył ich.
Chociaż oboje byli nadzy,
nie doznawali wobec siebie wstydu»!
I widział Stwórca, że było bardzo dobre.
Czyż nie On właśnie widzi wszystko w całej prawdzie?
Omnia nuda et aperta ante oculos Eius —


SỰ PHÁN XÉT

Bảo tàng Sistina có bức tranh ngày phán xử
ở Capella(4) có toà án cho tất cả mọi người
Trong những con mắt đớn đau – cùng chung phận số
Điểm tận cùng là điểm kết đó thôi
Cứ như vậy, lần lượt những cuộc đời.

Non omnis morriar
Không, ta không chết bao giờ
Trong ta là cuộc sống
Đấy chỉ là phần xứng đáng
Đối diện với Ngài
Ngài đã tạo ra sự sống!
Đám đông trong bức tranh luống cuống.
Ngươi chưa quên chứ, Adam?
Ngài đã từng gọi:
- Con ở đâu rồi?
Và ngươi trả lời:
- Con sợ, con trần truồng
Con trốn vì điều ấy.
Ai nói rằng ngươi trần truồng?
Và ngươi đã trả lời, có nhớ?
- Ngài đã trao cho con người vợ
Và vợ con trao trái cấm cho con...

Đám đông chen chúc trong bức hoạ trên tường
Trước câu trả lời con người còng lưng xuống
Câu hỏi đã ghi, câu trả lời cũng đúng
Tất cả ra về theo một đường chung.

Sąd

W Kaplicy Sykstyńskiej artysta umieścił Sąd.
W tym wnętrzu Sąd dominuje nad wszystkim.
Oto kres niewidzialny stał się tutaj przejmująco widzialny.
Kres i zarazem szczyt przejrzystości — 
Taka jest droga pokoleń.

Non omnis moriar —  
To co we mnie niezniszczalne,
teraz staje twarzą w twarz z Tym, który Jest!
Tak zaludniła się ściana centralna sykstyńskiej polichromii.
Pamiętasz, Adamie? On na początku ciebie pytał «gdzie jesteś?»
A ty odrzekłeś: «Ukryłem się przed Tobą, bo jestem nagi».
«Któż ci powiedział, że jesteś nagi?»...
«Niewiasta, którą mi dałeś» podała mi owoc...

Ci wszyscy, którzy zaludniają ścianę centralną sykstyńskiej
polichromii,
niosą w sobie dziedzictwo twojej wówczas odpowiedzi!
Tego pytania i tej odpowiedzi!
Taki jest kres waszej drogi.
_____________________- 
*Bức hoạ thành Rôm là bài thơ dài gồm 3 phần, mỗi phần có nhiều mục. Chúng tôi chỉ trích dịch 3 mục của phần 2.
(1) Michelangelo Buonarroti (1475-1564) – nhà điêu khắc, hoạ sĩ, kiến trúc sư, nhà thơ Italia.
(2) Sistina (Capella Sistina) – nhà thờ ở Vatican, nay là bảo tàng, nơi có những bức tranh nổi tiếng của Michelango Buonarroti
(4) Tháp chuông nhà thờ ở Vatican.


Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Thơ tình Wisława Szymborska

Wisława Szymborska

  


BẠN CỞI, CHÚNG TÔI CỞI, NGƯỜI TA CŨNG CỞI
(Quần áo)
 
Bạn cởi, chúng tôi cởi, người ta cũng cởi
áo khoác, bành tô, áo cánh, áo hai dây
làm bằng len, bông, bông với polyester
quần tây, áo sơ mi, quần lọt khe, áo váy
đặt xuống, treo lên hoặc ném chúng qua
lưng ghế bành, cánh rèm bằng kim loại
hiện tại bác sĩ nói rằng nó không quá tệ
có thể mặc áo quần, nghỉ ngơi, ra ngoại ô
uống viên thuốc trước khi ngủ, sau ăn trưa
rồi trở lại sau vài tháng, một năm, năm rưỡi
bạn thấy, bạn nghĩ và chúng tôi cũng sợ
bạn thì đoán, còn bác sĩ nghi ngờ rằng
đã đến lúc cần buộc mà tay vẫn còn run
thắt dây giày, móc treo, khóa cài, khóa kéo
dây thắt lưng, cà vạt, móc cài khuy, cổ áo
và kéo ra khỏi túi quần, tay áo, túi xách tay
chiếc khăn quàng nhàu nát, chấm sọc, kẻ ca rô
mà thời hạn sử dụng của nó kéo dài rất đáng nể.

Odzież
 
Zdejmujesz, zdejmujemy, zdejmujecie
płaszcze, żakiety, marynarki, bluzki
z wełny, bawełny, elanobawełny,
spódnice, spodnie, skarpetki, bieliznę,
kładąc, wieszając, przerzucając przez
oparcia krzeseł, skrzydła parawanów;
na razie, mówi lekarz, to nic poważnego,
proszę się ubrać, odpocząć, wyjechać,
zażywać w razie gdyby, przed snem, po jedzeniu,
pokazać się za kwartał, za rok, za półtora;
widzisz, a ty myślałeś, a myśmy się bali,
a wyście przypuszczali, a on podejrzewał;
czas już wiązać, zapinać drżącymi jeszcze rękami
sznurowadła, zatrzaski, suwaki, klamerki,
paski, guziki, krawaty, kołnierze
i wyciągać z rękawów, z torebek, z kieszeni
wymięty, w kropki, w paski, w kwiatki, w kratkę szalik
o przedłużonej nagle przydatności.

Clothes

You take off, we take off, they take off
coats, jackets, blouses, double-breasted suits,
made of wool, cotton, cotton-polyester,
skirts, shirts, underwear, slacks, slips, socks,
putting, hanging, tossing them across
the back of chairs, the wings of metal screens;
for now, the doctor says, it’s not too bad,
you may get dressed, get rested up, get out of town,
take one in case, at bedtime, after lunch,
show up in a couple of months, next spring, next year;
you see, and you thought, and we were afraid that,
and he imagined, and you all believed;
it’s time to tie, to fasten with shaking hands
shoelaces, buckles, velcro, zippers, snaps,
belts, buttons, cuff links, collars, neckties, clasps
and to pull out of handbags, pockets, sleeves
a crumpled, dotted, flowered, checkered scarf
whose usefulness has suddenly been prolonged.


TRƯỜNG HỢP BẤT KỲ

Đã xảy ra điều có thể
Đã xảy ra điều phải xảy ra.
Sớm hơn. Muộn màng hơn thế.
Gần hơn. Xa hơn.
Đã xảy ra – nhưng không phải với anh.

Còn nguyên vẹn, bởi anh người đầu tiên.
Còn nguyên vẹn, bởi anh người sau cuối.
Bởi do mọi người. Bởi anh tự mình
Bởi vì bên phải. Bởi vì bên trái
Bởi vì bóng rơi. Bởi vì mưa xối
Và bởi vì nắng đẹp, trời xanh.

Thật may mắn, ở đó là rừng
Thật may mắn, không một thân cây gỗ
Thật may mắn, khe núi, đường ray, sự cách trở
Milimét, phút giây và chỗ quay vòng
Thật may mắn, cọng rơm bơi trên nước.

Nhưng kết cục, thật khó mà nói được
Tuy thế, dù sao, giá mà tay, chân
Kẽ tóc chân tơ, theo mỗi bước chân
Tránh khỏi trùng phùng cơ hội.

Bởi thế, anh tồn tại?
Mang ơn mỗi phút giây
Lưới có một mắt. Còn anh ở trong mắt ấy
Em không lặng im và chẳng ngạc nhiên lắm vậy
Xin anh hãy nghe em
Để vì em
Con tim anh rộn ràng hãy đập.

Wszelki wypadek
 
Zdarzyć się mogło.
Zdarzyć się musiało.
Zdarzyło się wcześniej. Później. Bliżej. Dalej.
Zdarzyło się nie tobie.
 
Ocalałeś, bo byłeś pierwszy.
Ocalałeś, bo byłeś ostatni.
Bo sam. Bo ludzie. Bo w lewo. Bo w prawo.
Bo padał deszcz. Bo padał cień.
Bo panowała słoneczna pogoda.
 
Na szczęście był tam las.
Na szczęście nie było drzew.
Na szczęście szyna, hak, belka, hamulec,
Framuga, zakręt, milimetr, sekunda.
Na szczęście brzytw pływała po wodzie.
 
Wskutek, ponieważ, a jednak, pomimo.
Co było to było gdyby ręka, noga,
O krok, o włos
Od zbiegu okoliczności.
Więc jesteś?
Prosto z uchylonej jeszcze chwili?
Sieć jednooka, a ty przez to oko?
Nie umiem się nadziwić, namilczeć się temu.
Posłuchaj
Jak mi prędko bije twoje serce.
 


TÌNH YÊU TỪ CÁI NHÌN ĐẦU TIÊN

Cả hai người vẫn tin rằng
tình cảm của họ bất ngờ, đột ngột
lòng tin này rất đẹp
nhưng sự hoài nghi còn tuyệt vời hơn.

Họ cho rằng, nếu trước đó chưa từng quen
thì đã không có gì xảy ra với họ.
Thế sẽ nói gì những bậc thang, những hành lang, đường phố
những nơi mà họ gặp nhau không chỉ một lần?

Tôi muốn hỏi họ xem
liệu họ còn có nhớ
có thể, trong những vòng xoay cánh cửa
họ từng đối mặt ra sao?
Những lời “xin lỗi” khi va vào người nhau
giọng “anh nhầm rồi” trong ống nghe điện thoại
nhưng tôi biết câu trả lời như vậy.
Không, họ chẳng nhớ gì.

Mà họ sẽ ngạc nhiên nhiều hơn kia
khi biết rằng đã từ lâu lắm
với họ đang đùa giỡn
một trường hợp ngẫu nhiên.

Trường hợp này còn chưa sẵn sàng
trở thành số phận
xích họ lại gần, làm cho xa vắng
chạy qua đường, né sang bên
và tiếng cười khúc khích kìm nén.

Đã từng có những dấu hiệu
không quan trọng là đã chẳng hiểu ra
có thể từ ba năm trước kia
hay là, thứ ba tuần trước
khi từ vai này sang vai khác
một chiếc lá vương?
Một thứ gì người này làm rơi người khác nhặt lên
ai biết được, có thể là trái bóng
trong bụi cây từ thuở thiếu niên.

Đã có những chiếc chuông con và những tay cầm
mà ở đó rất lâu trước lần gặp gỡ
những dấu tay đã từng chồng lên.
Hai chiếc va li trong kho để kề bên.
Có thể, trong đêm có một giấc mơ giống hệt
khi thức giấc thì đã vội vàng quên.

Bởi vì mỗi sự mở đầu
chỉ là một hồi kế tiếp
và cuốn sách
của cuộc đời luôn mở giữa chừng trang.

Miłość od piewsego wejrzenia
 
Oboje są przekonani,
że połączyło ich uczucie nagłe.
Piękna jest taka pewność,
ale niepewność jest piękniejsza.
 
Sądzą, że skoro nie
znali się wcześniej,
nic miedy nimi nigdy się nie działo.
A co na to ulice, schody, korytarze,
na których mogli się od dawna mijać?
 
Chciałabym ich zapytać,
czy nie pamietają -
może w drzwiach obrotowych
kiedyś twarzą w twarz?
jakieś "przepraszam" w ścisku?
głos "pomyłka" w słuchawce?
- ale znam ich odpowiedź.
Nie, nie pamietają.
 
Bardzo by ich zdziwiło,
że od dłuższego już czasu
bawił się nimi przypadek.
 
Jeszcze nie całkiem gotów
zamienić się dla nich w los,
zbliżał ich i oddalał,
zabiegał im droge
i tłumiąc chichot
odskakiwał w bok.
 
Były znaki, sygnały,
cóż z tego, że nieczytelne.
Może trzy lata temu
albo w zeszły wtorek
pewien listek przefrunął
z ramienia na ramię?
Było coś zgubionego i podniesionego.
Kto wie, czy już nie piłka
w zaroślach dzieciństwa?
 
Były klamki i dzwonki,
na których zawczasu
dotyk kladł się na dotyk.
Walizki obok siebie w przechowalni.
Był może pewnej nocy jednakowy sen,
natychmiast po zbudzeniu zamazany.
 
Każdy przecież początek
to tylko ciąg dalszy,
a księga zdarzeń
zawsze otwarta w połowie.



TÌNH HẠNH PHÚC
 
Tình hạnh phúc. Có bình thường không vậy
Chẳng lẽ nghiêm túc, hay có ích điều này
Thế giới nhận được gì ở hai người
Khi mà họ không nhìn ra thế giới?
 
Họ tôn vinh nhau không phải vì công lao
Từ cả triệu người ngẫu nhiên được chọn
Nhưng họ tin rằng đấy là phần thưởng
Vì điều gì? Có ai biết được đâu.
 
Một tia sáng chẳng biết tự nơi nào
Sao không chiếu vào ai mà chiếu vào chính họ?
Đấy là điều bất công chăng? Hẳn thế
Không để ý gì đến dư luận xã hội chăng?
Vi phạm đạo đức, chối bỏ những điều răn?
Có vi phạm và có phần chối bỏ.
 
Quý vị hãy nhìn hai người hạnh phúc
Giá mà họ giả vờ, ngụy trang một chút
Giả vờ rầu rĩ để an ủi bạn bè
Tiếng của họ cười – nghe mà thấy bực
Lời họ nói với nhau – chẳng thể nào nghe.
Và những cử chỉ, lễ nghi của họ
Và những lời họ cam kết với nhau
Giống như một mưu đồ sau lưng nhân loại.
 
Thật khó đoán điều gì sẽ xảy ra
Nếu thiên hạ cũng noi theo gương họ
Thì còn gì cho tôn giáo, thơ ca
Còn gì để quên, còn gì để nhớ
Ai muốn giữ mình trong cái vòng kia?
 
Tình hạnh phúc. Liệu có cần thiết chăng?
Sự tế nhị và trí khôn buộc người ta im lặng
Như khi nói về những ông to tham nhũng
Trẻ nhỏ sinh ra đời có cần đến nó đâu
Nó đâu làm cho người đông đúc khắp địa cầu
Tình như thế là tình rất hiếm gặp.
 
Hãy để cho những ai chưa biết đến tình hạnh phúc
Tin tưởng rằng tình như thế không hề có trên đời
Và cảm thấy nhẹ nhàng hơn để sống và để chết.

Miłość szczęśliwa
 
Miłość szczęśliwa. Czy to jest normalne,
czy to poważne, czy to pożyteczne -
co świat ma z dwojga ludzi,
którzy nie widzą świata?
 
Wywyższeni ku sobie bez żadnej zasługi,
pierwsi lepsi z miliona, ale przekonani,
że tak stać się musiało - w nagrodę za co? za nic;
światło pada znikąd -
dlaczego właśnie na tych, a nie innych?
Czy to obraża sprawiedliwość? Tak.
Czy narusza troskliwie piętrzone zasady,
strąca ze szczytu morał? Narusza i strąca.
 
Spójrzcie na tych szczęśliwych:
gdyby się chociaż maskowali trochę,
udawali zgnębienie krzepiąc tym przyjaciół!
Słuchajcie, jak się śmieją - obraźliwie.
Jakim językiem mówią - zrozumiałym na pozór.
A te ich ceremonie, ceregiele,
Wymyślne obowiązki względem siebie -
wygląda to na zmowę za plecami ludzkości!
 
Trudno nawet przewidzieć, do czego by doszło,
gdyby ich przykład dał się naśladować.
Na co liczyć by mogły religie, poezje,
o czym by pamiętano, czego zaniechano,
kto by chciał zostać w kręgu.
 
Miłość szczęśliwa. Czy to jest konieczne?
Takt i rozsądek każą milczeć o niej
jak o skandalu z wysokich sfer Życia.
Wspaniałe dziatki rodzą się bez jej pomocy.
Przenigdy nie zdołałaby zaludnić ziemi,
zdarza się przecież rzadko.
 
Niech ludzie nie znający miłości szczęśliwej
twierdzą, że nigdzie nie ma miłości szczęśliwej
Z tą wiarą lżej im będzie i żyć, i umierać.
  


CÁM ƠN
 
Tôi mang ơn rất nhiều
với những người mà tôi không yêu.
 
Vì sự nhẹ nhàng mà tôi đón nhận
vốn chỉ dành cho người thân thương lắm.
 
Và tôi vui vì tôi chẳng trở thành
con sói giữa bầy cừu mà họ dắt chăn.
 
Bên họ tôi tự do
và cảm thấy bình an bên họ
mà tình yêu không thể trao điều đó
và tình yêu cũng không thể lấy về.
 
Tôi không chờ họ, khi chạy ra từ cửa sổ
tôi kiên nhẫn như đồng hồ mặt trời
tôi hiểu điều tình yêu không thể hiểu
và tôi tha thứ cho tất cả những điều
mà tình yêu không bao giờ tha thứ.
 
Từ khi gặp gỡ đến lúc nhận thư
thời gian đợi chờ không dài lắm
chỉ vài ngày, hoặc chưa đầy tháng.
 
Những chuyến đi với họ luôn mỹ mãn
những buổi nghe hòa nhạc, thăm bảo tàng
những giáo đường chúng tôi đã ghé thăm
và sau đó còn bao nhiêu danh thắng.
 
Rồi khi chúng tôi phải chia ly
bởi bảy dòng sông, mười ngọn núi
thì những ngọn núi, dòng sông như vậy
luôn dễ dàng tìm thấy trên bản đồ.
 
Công lao của họ
là tôi được sống trong không gian ba chiều
không cần trữ tình, không cần cường điệu
mà với chân trời thực – luôn đổi thay.
 
Và họ cũng không biết được điều này
họ có được gì khi trắng đôi tay.
 
“Tôi không nợ nần gì với họ” –
có lẽ tình yêu sẽ nói điều này
cho cái đề tài còn bỏ ngỏ.

Podziękowanie
 
Wiele zawdzięczam
tym, których nie kocham.
 
Ulgę, z jaką się godzę,
że bliżsi są komu innemu.
 
Radość, że nie ja jestem
wilkiem ich owieczek.
 
Pokój mi z nimi
i wolność mi z nimi,
a tego miłość ani dać nie może,
ani brać nie potrafi.
 
Nie czekam na nich
od okna do drzwi.
Cierpliwa
prawie jak słoneczny zegar,
rozumiem
czego miłość nie rozumie
wybaczam,
czego miłość nie wybaczyłaby nigdy.
 
Od spotkania do listu
nie wieczność upływa,
ale po prostu kilka dni albo tygodni.
 
Podróże z nimi zawsze są udane,
koncerty wysłuchane,
katedry zwiedzone,
krajobrazy wyraźne.
 
A kiedy nas rozdziela
siedem gór i rzek,
są to góry i rzeki
dobrze znane z mapy.
 
Ich zasługą,
jeżeli żyję w trzech wymiarach,
w przestrzeni nielirycznej i nieretorycznej
z prawdziwym, bo ruchomym horyzontem.
 
Sami nie wiedzą,
ile niosą w rękach pustych.
 
"Nic im nie jestem winna" -
powiedziałaby miłość
na ten otwarty temat.
  


NHỮNG NGƯỜI TRÊN CẦU
 
Những con người lạ lùng ở hành tinh lạ lùng kia
Họ lệ thuộc thời gian nhưng mà không thừa nhận
Và họ có những cách bày tỏ điều phản kháng
Họ vẽ những bức tranh, ví dụ bức tranh này:
 
Mới nhìn qua, có vẻ chẳng có gì
Bạn nhìn thấy dòng sông có nước đầy
Và thấy một bờ của dòng sông ấy
Một chiếc thuyền bơi ngược dòng nước chảy
Thấy cầu trên sông, thấy người ở trên cầu
Và những người này có vẻ như đang vội
Bởi vì họ nhìn từ những đám mây
Báo hiệu một cơn mưa rào đang tới.
 
Điều đáng nói là mọi hành động đang ngừng lại
Mây không hề đổi thay hình dạng, sắc màu
Mưa không dứt mà cũng chẳng rơi mau
Chiếc thuyền bơi mà dường như đứng lại
Còn trên cầu những con người đang chạy
Y hệt những người đã chạy trước đây.
 
Không thể không bình luận bức tranh này:
Đây không phải bức tranh không có lỗi
Bởi thời gian bị làm cho ngừng lại
Không tuân theo những qui luật của đời
Diễn biến của tiến trình bị làm cho thay đổi
Dòng thời gian bị xúc phạm ở đây.
 
Do một kẻ nổi loạn nào đó
Có tên là Hiroshige Utagawa*
(Người mà, quả thật là
Đã từ lâu yên nghỉ)
Và thời gian đã sẩy chân rơi.
 
Có thể đấy chỉ là trò đùa cợt mà thôi
Trong phạm vi thiên hà chỉ một vài
Nhưng mà để đề phòng trong mọi chuyện
Ta sẽ thêm vào đấy một đôi lời:
 
Bức tranh này được đánh giá tuyệt vời
Được người đời trầm trồ và ngưỡng mộ
Từ thế hệ này truyền qua bao thế hệ.
 
Một số người, điều này còn ít ỏi
Mà họ còn nghe cả tiếng mưa giông
Cảm nhận cái lạnh cả trên cổ, trên lưng
Thấy cây cầu và những người trên đấy
Tựa hồ như nhìn thấy mình đang chạy
Theo con đường đi vào cõi vĩnh hằng
Và họ tin tưởng dường như tuyệt đối
Rằng đấy là điều sự thật hiển nhiên.
___________

*Utagawa Hiroshige (sáng tác với bút danh Andō Hiroshige, 1797 – 1858) – là một trong những họa sỹ bậc thầy của dòng tranh truyền thống Ukiyo-e của Nhật Bản nổi tiếng thế giới.

Ludzie na moście
 
Dziwna planeta i dziwni na niej ludzie.
Ulegają czasowi, ale nie chcą go uznać.
Mają sposoby, żeby swój sprzeciw wyrazić.
Robią obrazki jak na przykład ten:
 
Nic szczególnego na pierwszy rzut oka.
Widać wodę.
Widać jeden z jej brzegów.
Widać czółno mozolnie płynące pod prąd.
Widać nad wodą most i widać ludzi na moście.
Ludzie wyraźnie przyśpieszają kroku,
bo właśnie z ciemnej chmury
zaczął deszcz ostro zacinać.
 
Cała rzecz w tym, że nic nie dzieje się dalej.
Chmura nie zmienia barwy ani kształtu.
Deszcz ani się nie wzmaga, ani nie ustaje.
Czółno płynie bez ruchu.
Ludzie na moście biegną
ściśle tam, co przed chwilą.
 
Trudno tu obejść się bez komentarza:
To nie jest wcale obrazek niewinny.
Zatrzymano tu czas.
Przestano liczyć się z prawami jego.
Pozbawiono go wpływu na rozwój wypadków.
Zlekceważono go i znieważono.
 
Za sprawą buntownika
jakiegoś Hiroshige Utagawy,
(istoty, która zresztą
dawno i jak należy minęła),
czas potknął się i upadł.
 
Może to tylko psota bez znaczenia,
wybryk na skalę paru zaledwie galaktyk,
na wszelki jednak wypadek
dodajmy, co następuje:
 
Bywa tu w dobrym tonie
wysoko sobie cenić ten obrazek,
zachwycać się nim i wzruszać od pokoleń.
 
Są tacy, którym i to nie wystarcza.
Słyszą nawet szum deszczu,
czują chłód kropel na karkach i plecach,
patrzą na most i ludzi,
jakby widzieli tam siebie,
w tym samym biegu nigdy nie dobiegającym
drogą bez końca, wiecznie do odbycia
i wierzą w swoim zuchwalstwie,
że tak jest rzeczywiście.
  


NHỮNG ĐỨA CON THỜI ĐẠI
 
Tất cả chúng ta là những đứa con
của thời đại chính trị
 
Tất cả việc làm, của bạn,của tôi
việc vào ban ngày, việc vào buổi tối
đều là chính trị đấy thôi.
 
Dù bạn muốn hay không
trong gien của ta vẫn còn quá khứ
da cũng mang màu sắc chính trị
cả trong con mắt chính trị cũng ngời lên.
 
Dù bạn nói lời hay bạn lặng im
thì sự im lặng cũng mang ý nghĩa
thế này thế kia đều là chính trị.
 
Ngay cả khi bạn đi trong rừng
bạn cũng đi bằng bước chân chính trị
lấy chính trị làm căn nguyên.
 
Thơ phi chính trị cũng là chính trị
vầng trăng kia tỏa sáng giữa trời xanh
nhưng đối tượng không còn là mặt trăng.
Tồn tại hay không tồn tại – đó là câu hỏi.
Bạn thân yêu, bạn hãy trả lời xem
câu hỏi mang màu sắc chính trị.
 
Thậm chí không cần phải làm người
để đạt được tầm quan trọng về chính trị.
Mà chỉ cần là dầu mỏ
đồ tái chế hoặc là thức ăn tinh. 
Hoặc làm chiếc bàn hội nghị
có hình tròn hoặc hình vuông
nơi người ta tranh luận suốt tháng năm
hay người ta đàm phán
về sự chết và sự sống.
 
Trong khi đó thì con người vẫn lìa trần
súc vật vẫn chết nhiều như thế
những ngôi nhà vẫn chìm trong lửa
đồng ruộng vẫn bỏ hoang
giống như cái thuở nào đó xa xăm
có ai cần gì chính trị.

Dzieci epoki
 
Jesteśmy dziećmi epoki,
epoka jest polityczna.
 
Wszystkie twoje, nasze, wasze
dzienne sprawy, nocne sprawy
to są sprawy polityczne.
 
Chcesz czy nie chcesz,
twoje geny mają przyszłość polityczną,
skóra odcień polityczny,
oczy aspekt polityczny.
 
O czym mówisz, ma rezonans,
o czym milczysz, ma wzmowę
tak czy owak polityczną.
 
Nawet idąc borem lasem
stawiasz kroki polityczne
na podłożu politycznym.
 
Wiersze apolityczne też są polityczne,
a w górze świeci księżyc,
obiekt już nie księżycowy.
Być albo nie być, oto jest pytanie.
Jakie pytanie, odpowiedz kochanie.
Pytanie polityczne.
 
Nie musisz nawet być istotą ludzką,
by zyskać na znaczeniu politycznym.
Wystarczy, żebyś był ropą naftową,
paszą treściwą czy surowcem wtórnym.
Albo I stołem obrad, o którego kształt
spierano się miesiącami
przy jakim pertraktować o życiu i śmierci, 
okrągłym czy kwadratowym.
 
Tymczasem ginęli ludzie,
zdychały zwierzęta,
płonęły domy
i dziczały pola
jak w epokach zamierzchłych
i mniej politycznych.
  


ẢNH CHỤP NGÀY 11 THÁNG 9
 
Họ nhảy xuống từ những tầng nhà rực lửa
Một người, hai người và bao người nữa
Cao hơn, thấp hơn.
 
Tấm ảnh ghi lại họ khi còn sống
Còn bây giờ giữ gìn
Khi họ rơi xuống mặt đất bằng.
 
Mỗi người trong số họ vẫn nguyên
Với gương mặt của mình
Được che bằng máu.
 
Thời gian hãy còn đủ
Để cho tóc họ bay
Và để từ những chiếc túi rơi
Những chìa khóa, những đồng tiền lẻ.
 
Họ vẫn còn lơ lửng trong không khí
Trong giới hạn của khoảng không
Cho họ đã mở toang.
 
Chỉ hai điều cho họ tôi có thể làm
Là mô tả chuyến bay của họ
Và không viết thêm câu cuối cùng.

Fotografia z 11 września
 
Skoczyli z płonących pięter w dół -
jeden, dwóch, jeszcze kilku
wyżej, niżej.
 
Fotografia powstrzymała ich przy życiu,
a teraz przechowuje
nad ziemią ku ziemi.
 
Każdy to jeszcze całość
z osobistą twarzą
i krwią dobrze ukrytą.
 
Jest dosyć czasu,
żeby rozwiały się włosy,
a z kieszeni wypadły
klucze, drobne pieniądze.
 
Są ciągle jeszcze w zasięgu powietrza,
w obrębie miejsc,
które się właśnie otwarły.
 
Tylko dwie rzeczy mogę dla nich zrobić -
opisać ten lot
i nie dodawać ostatniego zdania.
 


BỐN GIỜ SÁNG

Thời khắc từ đêm sang ngày
Thời khắc trở mình trằn trọc
Thời khắc của tuổi ba mươi.

Thời khắc, khi đất đai chối bỏ con người
Thời khắc bật lên trong giờ gà gáy
Thời khắc, khi ngôi sao tắt ngấm giữa trời
Thời khắc, thế sau ta có những gì còn lại?

Thời khắc lặng im
Thời khắc trống vắng
Tận cùng đáy của ngày đêm.

Lúc bốn giờ sáng chẳng có ai bình yên
Nếu bầy kiến lúc bốn giờ thanh thản
Ta mừng cho kiến. Và năm giờ sẽ đến
Nếu như ta sống tiếp cuộc đời mình.

Czwarta nad ranem
 
Godzina z nocy na dzień.
Godzina z boku na bok.
Godzina dla trzydziestoletnich.
 
Godzina uprzątnięta pod kogutów pianie.
Godzina, kiedy ziemia zapiera nas.
Godzina, kiedy wieje od wygasłych gwiazd.
Godzina a-czy-po-nas-nic-nie-pozostanie.
 
Godzina pusta.
Głucha, czcza.
Dno wszystkich innych godzin.
 
Nikomu nie jest dobrze o czwartej nad ranem.
Jeśli mrówkom jest dobrze o czwartej nad ranem
- pogratulujmy mrówkom. I niech przyjdzie piąta,
o ile mamy dalej żyć.


AI ĐÓ YÊU THƠ
 
Ai đó –
có nghĩa: không mọi người.
Không phải nhiều, mà là thiểu số.
Ngoại trừ những em trò nhỏ
và các nhà thi sĩ
trong nghìn người, may ra chỉ có hai.

Yêu –
như người đời yêu khoai tây với nấm
những lời khen, những sắc thái của hoàng hôn
với chiếc khăn nhỏ của mình
đứng trên chỗ của mình
trước khi đi ngủ dẫn ra đường con chó lớn.

Thơ –
thơ ca là gì thế?
Bao nhiêu câu trả lời
tôi từng nghe được về điều này.
Cũng may: chúng đều lời nhẹ
bởi nếu không, sao tôi viết những dòng này.

Niektory lubią poezję
 
Niektórzy -
czyli nie wszyscy.
Nawet nie większość wszystkich ale mniejszość.
Nie licząc szkół, gdzie się musi,
i samych poetów,
będzie tych osób chyba dwie na tysiąc.
 
Lubią -
ale lubi się także rosół z makaronem,
lubi się komplementy i kolor niebieski,
lubi się stary szalik,
lubi się stawiać na swoim,
lubi się głaskać psa.
 
Poezję -
Tylko co to takiego poezja.
Niejedna chwiejna odpowiedź
na to pytanie już padła.
A ja nie wiem i nie wiem i trzymam się tego
Jak zbawiennej poręczy.


BA LỜI KỲ LẠ

Khi tôi phát âm từ “tương lai
Thì âm tiết đầu đã vào quá khứ.

Khi tôi phát âm từ “lặng lẽ
Thì tôi tự mình đã phá nó đi.


Tôi cẩn thận nói lời “không có gì
Thì có một cái gì bao la hiện rõ…


Trzy słowa najdziwniejsze
 
Kiedy wymawiam słowo Przyszłość,
pierwsza sylaba odchodzi już do przeszłości.
 
Kiedy wymawiam słowo Cisza,
niszczę ją.
 
Kiedy wymawiam słowo Nic,
stwarzam co, co nie mieści się w żadnym niebycie


NHÀ GA

Sự không có mặt của em đến thành phố N
Đã theo đúng thời gian biểu.

Em đã báo trước với anh
Bằng bức điện mà rồi em không gửi.

Và anh đã không kịp tới
Theo thời gian hẹn hò.

Con tàu đi vào đường thứ ba
Có rất nhiều người ra đón.

Trong đám đông, em hướng về phía cổng
Không có người đưa đón của mình.

Một vài người phụ nữ vội vàng
Nhìn theo em
Bước đi vội vã.

Có ai đấy chạy đến bên một người phụ nữ
Người này em không quen
Nhưng người phụ nữ nhận ra người đàn ông
Chỉ trong khoảnh khắc.

Họ hôn nhau thắm thiết
Không bằng nụ hôn của chúng mình
Và chiếc va li bị lấy cắp
Không phải là chiếc va li của em.

Nhà ga thành phố N
Đã trả thi rất giỏi
Về sự tồn tại khách quan.

Cái chung vẫn còn nguyên vẹn
Cái riêng đã hoàn thành
Theo như số trời định sẵn.

Và ngay cả lần hò hẹn
Cũng đã định trước rồi.

Nhưng, than ôi
Sau khi chúng mình có mặt.

Và thiên đường đã mất
Giống như chân lý cuộc đời.

Ở đâu, chứ không phải ở đây
Ở đâu, chứ không phải ở đây
Vang lên những lời thánh thót.  

Dworzec
 
Nieprzyjazd mój do miasta N.
odbył się punktualnie.
 
Zostałeś uprzedzony
niewysłanym listem.
 
Zdążyłeś nie przyjść
w przewidzianej porze.
 
Pociąg wjechał na peron trzeci.
Wysiadło dużo ludzi.
 
Uchodził w tłumie do wyjścia
brak mojej osoby.
 
Kilka kobiet zastąpiło mnie
pośpiesznie
w tym pośpiechu.
 
Do jednej podbiegł
ktoś nie znany mi,
ale ona rozpoznała go
natychmiast.
 
Oboje wymienili
nie nasz pocałunek,
podczas czego zginęła
nie moja walizka.
 
Dworzec w mieście N.
dobrze zdał egzamin
z istnienia obiektywnego.
 
Całość stała na swoim miejscu.
Szczegóły poruszały się
po wyznaczonych torach.
 
Odbyło sie nawet
umówione spotkanie.
 
Poza zasięgiem
naszej obecności.
 
W raju utraconym
prawdopodobieństwa.
 
Gdzie indziej.
Gdzie indziej.
Jak te słówka dźwięczą.


Thơ tình Czeslaw Milosz

Czeslaw Milosz


HÃY QUÊN

Anh hãy quên bao đau khổ
Mà anh gây ra cho mình
Và hãy quên bao đau khổ
Người khác gây ra cho anh.
Dòng nước trôi nhanh, trôi nhanh
Mùa xuân ánh lên rồi lụi
Trên đất rồi sẽ lãng quên.

Anh nghe bài hát xa xăm
Và hỏi ai người hát vậy?
Mặt trời tuổi thơ thức dậy
Cháu chắt, chút chít cứ sinh
Bây giờ nắm tay anh đấy.

Tên những dòng sông còn lại
Làm sao dòng sông dài mãi
Đồng ruộng của anh bỏ hoang
Tháp lầu thảy đều hư không
Anh đứng trên ghềnh tê tái.


Zapomnij 

Zapomnij o cierpieniach,
Które sam zadałeś.
Zapomnij o cierpieniach,
Które tobie zadano.
Wody płyną i płyną,
Wiosny błysną i giną,
Idziesz ziemią ledwie pamiętaną.
Czasem słyszysz daleko piosenkę.
Co to znaczy, pytasz, kto tam śpiewa?
Dziecinne słońce wschodzi,
Wnuk i prawnuk się rodzi.
Teraz ciebie prowadzą za rękę.
Nazwy rzek tobie jeszcze zostały.
Jakże długo umieją trwać rzeki!
Pola twoje, ugorne,
Wieże miast, niepodobne.
Ty na progu stoisz, zaniemiały.



Trò chuyện cùng Jeanne

Ta triết lý với nhau, có để làm gì đâu hở Jeanne(1) 
Tốn bao nhiêu lời, tốn bao nhiêu giấy mực 
Anh nói thật cùng em về sự xa cách của mình 
Rằng anh không đến nỗi đắng cay vì cuộc đời này khó nhọc 
Với đau đớn đời thường không tốt hơn mà cũng chẳng xấu hơn. 

Cuộc tranh luận của ta kéo dài không dưới ba mươi năm 
Còn bây giờ, trên đảo này, dưới bầu trời nhiệt đới 
Ta chạy trốn cơn giông, phút giây dưới mặt trời sáng chói 
Còn lại đây ngọc bích của màu xanh. 

Ta đắm chìm vào bọt biển, bơi về chốn xa xăm 
Nơi mặt trời móc vào những tàu lá chuối 
Với những lá cọ trên cối xay gió vẫn còn vẫy vẫy 
Và người ta đã buộc tội anh 
Vì không đạt đến đỉnh cao trong nghề nghiệp của mình 
Rằng không đòi hỏi cho mình như Jaspers(2) đã chỉ 
Rằng đã coi thường những yêu cầu thế kỉ. 

Đung đưa trên ngọn sóng, anh ngắm nhìn những đám mây. 

Jeanne ạ, quả thế, anh không biết quan tâm đến sự cứu rỗi của linh hồn
Một người này có năng khiếu thì người kia cũng làm được những gì có thể 
Anh xứng đáng với những gì đã xảy ra và anh đồng ý.
Anh không chơi cái trò biết điều theo lối cổ xưa
Là đặc tính của cuộc đời này, sự tồn tại của ta:
Trên bãi tắm phụ nữ cởi trần với sắc đồng trên ngực

Hoa hồng vàng, hoa huệ đỏ, hoa phong lan… và xực
Bằng đôi mắt, bờ môi, lưỡi và nước ép La prune de Cynthere 
Rượu rum và nước đá, nước quả ép và nước xi-rô 
Những hàng cây gốc khẳng khiu trong rừng ẩm ướt 
Và em vẫn nói rằng ta đã gần cái chết 
Rằng ta khổ vì hạnh phúc quá ít chốn trần gian. 

Những luống đất của vườn rau có màu tím đen 
Em có còn ở lại đây nhìn đất, hay là chẳng 
Biển sẽ vẫn như hôm nay, thở từ trong sâu thẳm 
Biển co vào, mất hút trong bao la mà vẫn tự do hơn. 
Guadeloupe 
_________________ 
(1)Jeanne Hersch – một người bạn lâu năm của Czeslaw Milosz – giáo sư triết học Đại học Geneva (Thụy Sĩ), học trò của Karl Jaspers.
(2) Karl Jaspers (1883-1969) – nhà triết học Đức, một đại diện của chủ nghĩa hiện sinh.

Conversation With Jeanne

Let us not talk philosophy, drop it, Jeanne. 
So many words, so much paper, who can stand it. 
I told you the truth about my distancing myself. 
I've stopped worrying about my misshapen life. 
It was no better and no worse than the usual human tragedies. 

For over thirty years we have been waging our dispute 
As we do now, on the island under the skies of the tropics. 
We flee a downpour, in an instant the bright sun again, 
And I grow dumb, dazzled by the emerald essence of the leaves. 

We submerge in foam at the line of the surf, 
We swim far, to where the horizon is a tangle of banana bush, 
With little windmills of palms. 
And I am under accusation: That I am not up to my oeuvre, 
That I do not demand enough from myself, 
As I could have learned from Karl Jaspers, 
That my scorn for the opinions of this age grows slack. 

I roll on a wave and look at white clouds. 

You are right, Jeanne, I don't know how to care about the salvation of my soul. 
Some are called, others manage as well as they can. 
I accept it, what has befallen me is just. 
I don't pretend to the dignity of a wise old age. 
Untranslatable into words, I chose my home in what is now, 
In things of this world, which exist and, for that reason, delight us: 
Nakedness of women on the beach, coppery cones of their breasts, 
Hibiscus, alamanda, a red lily, devouring 
With my eyes, lips, tongue, the guava juice, the juice of la prune de Cythère,
Rum with ice and syrup, lianas-orchids 
In a rain forest, where trees stand on the stilts of their roots. 

Death, you say, mine and yours, closer and closer, 
We suffered and this poor earth was not enough. 
The purple-black earth of vegetable gardens 
Will be here, either looked at or not. 
The sea, as today, will breathe from its depths. 
Growing small, I disappear in the immense, more and more free. 


Bài thơ cuối thế kỷ

Một khi đều tốt đẹp
Thì biến mất khái niệm lỗi lầm
Và mặt đất đã sẵn sàng
Tiêu dùng và vui vẻ
Khắp mọi nơi, mọi chỗ
Không mơ tưởng, chẳng lòng tin.

Tôi, không hiểu tại vì sao
Đi lục tìm trong sách
Của những tiên tri, những nhà thần học
Những thi sĩ, những triết gia
Đi kiếm câu trả lời
Nhăn mặt, chau mày, thức trong đêm vắng
Rồi kêu lên mỗi buổi sáng.

Những gì hành hạ tôi
Thật vô cùng xấu hổ
Thiếu sáng suốt và tế nhị
Là thuộc tính của chuyện này
Chút nữa thì tôi xâm hại
Đến sức khoẻ của loài người.

Chỉ tiếc rằng, kí ức của tôi
Không để cho tôi yên lặng
Và trong đó có những điều sống động
Với nỗi đau của mình
Với cái chết của mình
Và với sự ngạc nhiên tư hữu.

Lấy đâu ra sự trinh trắng, hồn nhiên
ở chốn thiên đàng trên mặt đất
Để trao cho bầu trời trong sạch
Bằng sự rửa tội của nhà thờ?
Có phải chính vì thế mà
Điều này tồn tại đã từ lâu lắm?

Nói cho bậc hiền tri ngoan đạo
Câu ngụ ngôn Arập thế này
Thượng Đế từng nói trong cơn giận:
“Giá mà con người khi hối hận
Nói rằng con là kẻ lỗi lầm
Thì ta đã chẳng hề khen.

Còn ta khi mở cửa cho con
Cho kẻ nhân từ xứng đáng
- Ngài trả lời cao thượng -
Thì ta đã coi thường”.

Tôi biết hỏi ai
Về những việc làm đen tối
Những nỗi đau cùng lầm lỗi
Trong kiến trúc cuộc đời này
Nếu như không ở dưới đây
Không ở trên cao đó
Không một sức mạnh nào có thể
Mở ra nguyên nhân và hậu quả cho tôi?

Không suy nghĩ, không nhớ về
Cái chết trên cây thập ác
Dù hàng ngày đang chết
Một người duy nhất đáng yêu
Người mà lúc nào
Cũng đồng ý và cho phép
Rằng sự tồn tại trên mặt đất
Luôn cùng với đau đớn, cực hình.

Quả là enigmatical
Những điều không hiểu nổi.
Tốt nhất là lời khép lại.
Ngôn ngữ này không phải cho người
Ta chỉ có một niềm vui
Là mùa thu hoạch nho và lúa
Dù không phải cho tất cả
Sự yên lòng được trời trao.

Berkeley.

Wiersz na koniec stulecia

Kiedy już było dobrze
I znikło pojęcie grzechu
I ziemia była gotowa
W powszechnym pokoju
Spoczywać i weselić się
Bez wiar i utopii,

Ja, nie wiadomo czemu,
Obłożony księgami
Proroków i teologów,
Filozofów, poetów,
Szukałem odpowiedzi
Marszcząc się, wykrzywiając, budząc się w środku nocy
Wykrzykując nad ranem.

Co mnie tak pognębiało,
Było zawstydzające.
Brak taktu i rozwagi
Byłby w mówieniu o tym,
A nawet jakby zamach
Na zdrowie ludzkości.

Niestety moja pamięć
Nie chciała mnie opuścić,
A w niej żywe istoty
Każda z jej wżasnym bólem,
Każda z jej wżasną śmiercią,
Z jej własnym przerażeniem.

I skąd by tam niewinność
Na plażach ziemskiego raju,
Niepokalane niebo
Nad kościołem higieny?
Czy dlatego, że Tamto
Było już bardzo dawno?

Do mędrca świątobliwego
Glosi arabska przypowieść
Bóg rzekł nieco złośliwie:
"Gdybym ludziom wyjawił,
Jakim jesteś grzesznikiem,
Nie chwaliliby ciebie."

"A ja, gdybym im odkrył,
Jak jesteś miłosierny
Odparł mąż świątobliwy
Pogardzałiby Tobą."

Do kogo mam się zwrócić
z tą całkiem ciemną sprawą
Bólu i razem winy
W architekturze Świata,
Jeżeli tutaj nisko
Ni tam w górze wysoko
żadna moc nie obali
Przyczyny i skutku?

Nie myśleć, nie wspominać
O Śmierci na krzyżu,
chociaż co dzień umiera
Jedyny miłujący,
Który bez Ŕadnej potrzeby
Zgodził się i zezwolił,
żeby co jest, istniało
Razem z narzędziem tortur.

Całkiem enigmatycznie.
Niepojęcie zawiłe.
Lepiej mowy zaprzestać.
Ten język nie dla ludzi.
Błogosławiona radość.
Winobranie i żniwo.
Choćby nie na każdego

Przyszlo uspokojenie.


NHỮNG TIA NẮNG SÁNG NGỜI

Những tia nắng sáng ngời
Giọt sương trời tinh khiết
Hãy giúp người khao khát
Hiểu ý nghĩa cuộc đời. 

Sau bức màn ngăn cách
Ai hiểu được đời đâu
Khi còn sống, vò đầu
Hạnh phúc – không hạnh phúc. 

Nhưng đến ngày biết hết
Ly biệt sẽ phai màu
Nơi ấy sẽ gặp nhau

Linh hồn và thể xác.

Jasności promieniste

Jasności promieniste,
Niebiańskie rosy czyste,
Pomagajcie każdemu
Ziemi doznającemu.

Za niedosiężną zasłoną
Sens ziemskich spraw umieszczono.
Gonimy dopóki żywi,
Szczęśliwi i nieszczęśliwi.

To wiemy, że bieg się skończy
I rozłączone się złączy
W jedno, tak jak być miało:

Dusza i biedne ciało.


Ý NGHĨA

- Khi chết đi, ta sẽ nhìn thấy bên kia thế giới.
Phía khác, sau hoàng hôn, chim chóc, đồi núi 
Sẽ đọc ra ý nghĩa thực sự mà ta quan tâm. 
Những gì chưa từng gặp gỡ rồi sẽ đoàn viên
Điều không thể hiểu sẽ rõ ràng và thấu hiểu. 

- Còn nếu như không có bên kia thế giới?
Nếu con chim đậu trên cành không là dấu hiệu
Mà chỉ là con chim trên cành, nếu ngày và đêm
Chỉ nối đuôi nhau mà ý nghĩa chẳng quan tâm
Và không có gì trên trần ngoài đất đai như vậy?

Mà nếu thế, thì dù sao, vẫn còn lời ở lại
Lời một lần thức dậy từ đôi môi của người trần
Chạy và chạy, làm kẻ đưa tin không mệt mỏi
Giữa các vì sao, giữa vũ trụ xoay vần
Lời kêu gọi, lời thét lên và lời phản đối.

Sens

- Kiedy umrę, zobaczе podszewkе swiata.
Drugą stronę, za ptakiem, gorą i zachodem słonca.
Wzywajace odczytania prawdziwe znaczenie.
Co nie zgadzalo sie, będzie sie zgadzało.
Co było niepojęte, będzie pojęte.

- A jeżeli nie ma podszewki świata?
Jeżeli drozd na gałęzi nie jest wcale znakiem
Tylko drozdem na gałęzi, jeżeli dzień i noc
Następują po sobie nie dbając o sens
I nie ma nic na ziemi, prócz tej ziemi?

Gdyby tak było, to jednak zostanie
Słowo raz obudzone przez nietrwałe usta,
Które biegnie i biegnie, poseł niestrudzony,
Na międzygwiezdne pola, w kołowrót galaktyk

I protestuje, woła, krzyczy.