Hiển thị các bài đăng có nhãn Triệu bông hồng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Triệu bông hồng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

Triệu bông hồng - Voznesensky

Andrey Voznesensky




TRIỆU BÔNG HỒNG

Ngày xưa có một chàng họa sĩ 
Có rất nhiều tranh và có ngôi nhà 
Nhưng chàng đã đem lòng yêu quí 
Một nàng nghệ sĩ rất yêu hoa. 

Thế rồi một hôm chàng đem bán 
Những bức tranh và bán ngôi nhà 
Có bao nhiêu tiền chàng dành dụm 
Rồi đem mua cả một biển hoa. 

Triệu bông hồng, triệu bông hồng đỏ thắm 
Em hãy từ cửa sổ đứng nhìn xem 
Ai đang yêu nghiêm túc và say đắm 
Biến đời mình thành hoa đẹp cho em. 

Và bên cửa sổ lúc sáng sớm 
Liệu em có sung sướng phát cuồng? 
Tựa hồ như mình trong giấc mộng 
Nhìn thấy hoa tràn ngập quảng trường. 

Một chút lạnh trong lòng, em chợt nghĩ 
Đại gia nào sao hoang phí thế này? 
Thì dưới khung cửa sổ, dường nghẹt thở 
Tội nghiệp cho chàng họa sĩ đứng đây. 

Họ gặp nhau chỉ phút chốc vậy đó 
Rồi nàng theo tàu về chốn xa xăm 
Nhưng dù sao, trong đời nàng đã có 
Khúc hát tình si của những bông hồng. 

Còn chàng vẫn sống cuộc đời gian khó 
Nhà không còn và chàng vẫn cô đơn 
Nhưng dù sao, trong đời chàng đã có 
Những bông hoa đầy cả quảng trường! 

Миллион алых роз

Жил-был художник один,
домик имел и холсты.
Но он актрису любил,
ту, что любила цветы.

Он тогда продал свой дом —
продал картины и кров —
и на все деньги купил
целое море цветов.

Миллион, миллион, миллион алых роз
из окна видишь ты.
Кто влюблён, кто влюблён, кто влюблён — и всерьёз! —
свою жизнь для тебя превратит в цветы.

Утром ты встанешь у окна —
может, сошла ты с ума?
Как продолжение сна,
площадь цветами полна.

Похолодеет душа —
что за богач там чудит?
А за окном без гроша
бедный художник стоит.

Встреча была коротка.
В ночь её поезд увёз.
Но в её жизни была
песня безумная роз.

Прожил художник один.
Много он бед перенёс.
Но в его жизни была
целая площадь из роз...



ANH TRỞ VỀ KHI EM ĐI RA PHỐ

Anh trở về khi em đi ra phố 
Khẽ chạm vào chiếc áo khoác của em 
Anh hiểu rằng từ chiều qua mưa nhỏ 
Từ chiều qua em đã bước ra đường. 

Em chạy ra từ bậc thềm đến cổng 
Rồi u sầu quay trở lại mái hiên… 
Thật tuyệt vời khi yêu và trông ngóng 
Nhưng tình yêu không một chút nhẹ nhàng.

Я вернусь, когда в город уйдешь

Я вернусь, когда в город уйдешь, 
и уткнусь в твой плащ на ватине. 
И пойму, что шел с вечера дождь. 
и что из дому ты выходила. 

Выбегала с крыльца до ворот, 
возвращалась понуро к крылечку… 
Хорошо, когда любит и ждет, 
но от этого только не легче.



ĐỪNG TRỞ LẠI VỚI NGƯỜI YÊU NGÀY CŨ

Đừng trở lại với người yêu ngày cũ
Người yêu xưa không hề có trên đời.
Chỉ bản sao – như ngôi nhà mất rồi
Nơi hai người sống mấy năm ở đó.

Con chó trắng đón bạn bằng tiếng sủa
Nằm trên đồi là hai cánh rừng con
Bên phải, bên trái – hai khu rừng nhỏ
Lặp lại trong sương tiếng sủa của mình.

Hai tiếng vọng riêng lẻ ở trong rừng
Dường như trong hai loa âm thanh nổi
Những gì hai người đã làm ngày ấy
Chúng mang âm thanh đi khắp thế gian.

Tiếng vọng trong nhà làm rơi cốc chén
Tiếng vọng dối gian mời uống nước trà
Tiếng vọng dối gian bỏ lại đêm qua
Khi mà đêm, đáng lẽ, cần lên tiếng:

“Đừng quay trở lại hỡi người yêu mến
Người yêu xưa không hề có trên đời
Hai nét duyên thầm kỳ diệu, tuyệt vời
Dù uốn thẳng câu trả lời cho bạn…”

Và chiều mai, khi bạn bước ra tàu
Những chìa khóa bạn đem vứt xuống suối
Cả rừng bên phải, cả rừng bên trái
Bằng giọng của mình cho bạn sẽ kêu:

“Đừng từ giã những người yêu của mình
Người yêu xưa trên đời không hề có…”

Nhưng mà bạn đâu có nghe lời khuyên.

Не возвращайтесь к былым возлюбленным

Не возвращайтесь к былым возлюбленным,
былых возлюбленных на свете нет.
Есть дубликаты — как домик убранный,
где они жили немного лет.

Вас лаем встретит собачка белая,
и расположенные на холме
две рощи — правая, а позже левая —
повторят лай про себя, во мгле.

Два эха в рощах живут раздельные,
как будто в стереоколонках двух,
все, что ты сделала и что я сделаю,
они разносят по свету вслух.

А в доме эхо уронит чашку,
ложное эхо предложит чай,
ложное эхо оставит на ночь,
когда ей надо бы закричать:

«Не возвращайся ко мне, возлюбленный,
былых возлюбленных на свете нет,
две изумительные изюминки,
хоть и расправятся тебе в ответ...»

А завтра вечером, на поезд следуя,
вы в речку выбросите ключи,
и роща правая, и роща левая
вам вашим голосом прокричит:

«Не покидайте своих возлюбленных.
Былых возлюбленных на свете нет...»

Но вы не выслушаете совет.



SAGA

Em thức anh dậy buổi bình minh
Rồi tiễn anh, em đi chân đất.
Em sẽ không bao giờ quên được anh
Hai chúng mình sẽ không còn gặp mặt.

Anh muốn che giùm em cơn gió độc
Và anh nghĩ rằng: “Lạy Chúa lòng lành!
Anh sẽ không bao giờ quên được em.
Hai chúng mình sẽ không còn gặp mặt.

Dòng nước sủi bọt ngầu trong bể nước
Và Admiranteistvo và Birzha*
Anh đã không quên được chúng bao giờ
Và anh đã không bao giờ còn gặp.

Không chớp mắt, những cây anh đào khóc
Những cây anh đào vô vọng, sẫm màu.
Quay trở lại – có tốt đẹp gì đâu.
Hai chúng mình sẽ không còn gặp mặt.

Và ngay cả khi ta quay về đất
Theo như Hafiz, thì trong lần này
Anh và em, tất nhiên, sẽ nhũn người
Hai chúng mình sẽ không còn gặp mặt.

Nên thành ra, sẽ là điều nhỏ nhất
Sự không hiểu nhau của cả hai người
Trước sự không hiểu còn ở sau này
Của người sống và khoảng không đã chết.

Hai câu nói giữa trời xanh tròng trành
Bay từ đây vào trời xanh mất hút:
“Anh sẽ không bao giờ quên được em
Hai chúng mình sẽ không còn gặp mặt”.
_______________
*Admiranteistvo – Bộ Hải quân; Birzha – sàn giao dịch. 

Сага

Ты меня на рассвете разбудишь,
проводить необутая выйдешь.
Ты меня никогда не забудешь.
Ты меня никогда не увидишь.

Заслонивши тебя от простуды,
я подумаю: "Боже всевышний!
Я тебя никогда не забуду.
Я тебя никогда не увижу".

Эту воду в мурашках запруды,
это Адмиралтейство и Биржу
я уже никогда не забуду
и уже никогда не увижу.

Не мигают, слезятся от ветра
безнадежные карие вишни.
Возвращаться — плохая примета.
Я тебя никогда не увижу.

Даже если на землю вернемся
мы вторично, согласно Гафизу,
мы, конечно, с тобой разминемся.
Я тебя никогда не увижу.

И окажется так минимальным
наше непониманье с тобою
перед будущим непониманьем
двух живых с пустотой неживою.

И качнется бессмысленной высью
пара фраз, залетевших отсюда:
"Я тебя никогда не забуду.
Я тебя никогда не увижу".



ROMANCE

Hãy nhớ phút giây này. Và cây tầm xuân nhỏ.
Trên cánh tay em chủng ngừa khỏi tầm xuân.
Anh là nhà thơ, người tình của em muôn thuở
Chỉ có thế thôi, và chẳng có gì hơn. 

Hãy nhớ thế giới này, một khi còn có thể
Còn sau một nghìn năm, mà có thể nhiều hơn
Em sẽ khóc thét lên vì tầm xuân cào xé… 
Chỉ có thế thôi, và chẳng có gì hơn.

Романс

Запомни этот миг. И молодой шиповник.
И на Твоем плече прививку от него.
Я — вечный Твой поэт и вечный Твой любовник.
И — больше ничего.

Запомни этот мир, пока Ты можешь помнить,
а через тыщу лет и более того,
Ты вскрикнешь, и в Тебя царапнется шиповник…
И — больше ничего.


TRƯỚC TÒA

Trước tòa ở thiên đường hay địa ngục
Ông sẽ nói, khi có các nguyên đơn:
“Tôi yêu hai người đàn bà như một
Dù họ hoàn toàn không phải song sinh”.

Có nói gì đi nữa cũng thế thôi
Câu trả lời cũng sẽ không nghe hết
Họ giống như một ô cửa sổ đôi
Còn ông ấy – chốt màu đen đóng chặt.

На суде, в раю или в аду

На суде, в раю или в аду
скажет он, когда придут истцы:
«Я любил двух женщин как одну,
хоть они совсем не близнецы».

Все равно, что скажут, все равно…
Не дослушивая ответ,
он двустворчатое окно
застегнет на черный шпингалет.


GIẤC MƠ

Một lần nữa hai chúng mình lại gặp
Chiếc xe tải đã chở hai đứa mình.
Và hai ta yêu nhau – đã bao lần.
Thế mà anh – em không hề nhận biết.

Rồi em dẫn anh về nhà, thân thiết.
Em yêu anh và ban tặng tình em.
Chúng mình sống cùng nhau đã bao năm.
Thế mà anh – em không hề nhận biết. 

Сон

Мы снова встретились,
и нас везла машина грузовая.
Влюбились мы — в который раз.
Но ты меня не узнавала.

Ты привезла меня домой.
Любила и любовь давала.
Мы годы прожили с тобой,
но ты меня не узнавала!



TRONG CƠ THỂ NGƯỜI TRẦN

Trong cơ thể con người trần
Chín mươi phần trăm là nước
Còn ở Paganini* thì chín chục
Phần trăm, có lẽ là tình. 

Như một ngoại lệ – ngay cả khi –
Em bị đám đông giẫm nát
Trong chỉ định của con người ta
Chín mươi phần trăm là tốt.  

Chín mươi phần trăm âm nhạc
Dù khi tai họa, ai cần
Nên trong anh, dù là rác
Chín mươi phần trăm là em.
________
*Niccolò Paganini (1782 – 1840) là một nghệ sĩ chơi violin, viola, guitar và là nhà soạn nhạc nổi tiếng người Ý. 

В человеческом организме

В человеческом организме
девяносто процентов воды,
как, наверное, в Паганини,
девяносто процентов любви.

Даже если - как исключение -
вас растаптывает толпа,
в человеческом назначении -
девяносто процентов добра. 

Девяносто процентов музыки,
даже если она беда,
так во мне, несмотря на мусор,
девяносто процентов тебя.


ANH ĐÍNH HÔN VỚI EM BẰNG THỜI GIAN 

Anh đính hôn với em bằng thời gian
Không nhẫn vàng, mà bằng đồng hồ điện. 
Anh sợ rằng phút giây đang dần biến
Chúng sưởi ấm bằng cánh tay yêu thương.

Мы обручились временем с тобой

Мы обручились временем с тобой, 
не кольцами, а электрочасами. 
Мне страшно, что минуты исчезают. 
Они согреты милою рукой.


LỜI MẸ NÓI

Khi con là một chấm trong người mẹ
(bố của con khi đó cứ đòi)
Bố mẹ nghĩ về con, con gái ơi –
Nên giữ lại hay là không giữ lại? 

Trên mái đầu phất phơ làn tóc rối
Ký ức của con có vẻ rõ ràng
Và câu hỏi ngày hôm nay của con: 
“Nên giữ lại hay là không giữ lại?” 

Говорит мама

Когда ты была во мне точкой
(отец твой тогда настаивал),
мы думали о тебе, дочка,—
оставить или не оставить?

Рассыпчатые твои косы,
ясную твою память
и сегодняшние твои вопросы:
«оставить или не оставить?»



TÌNH CA NGA – MỸ 

Cả ở nước bạn, và ở nước tôi
Ngủ say đến sáng – không hề quay lưng. 

Và một vầng trăng sáng gấp hai lần
Cả ở nước bạn, và ở nước tôi

Và một giá chung – hầu như miễn phí
Bình minh cho bạn, hoàng hôn cho tôi.
  
Gió lạnh buổi sáng đập vào cửa sổ
Không lỗi của bạn, không lỗi của tôi.

Trong lời gian dối của bạn, của tôi
Có tình yêu, nỗi đau vì đất mẹ. 
  
Dẹp hết kẻ ngốc một lúc nào đó
Cả ở nước bạn, và ở nước tôi.  

Русско-американский романс

И в моей стране, и в твоей стране 
до рассвета спят – и не спиной к спине.

 И одна луна, золота вдвойне, 
И в моей стране, и в твоей стране.

И в одной цене, – ни за что, за так, 
для тебя восход, для меня – закат. 

И предутренний холодок в окне 
не в твоей вине, не в моей вине.

И в твоём вранье, и в моём вранье 
есть любовь и боль по родной стране.

Идиотов бы поубрать вдвойне – 
и в твоей стране, и в моей стране.



VÌ EM

Vì em mà anh nói trên đài phát thanh
Em nghe thấy trên đường ra công sở
Anh sống trên đời này là vì Em đó.
Chỉ vì Em.

Anh tập thể thao là cũng vì Em
Vào chỗ không người anh quay bàn đạp.
Có vẻ như anh bị ai đánh cắp
Những diều hâu đang bay lượn quanh mình. 

Giữa kẻ giết người và kẻ gian hùng
Chọn không vì “rau xanh” hay giẻ rách
Cũng không vì nhân dân hay đất nước
Mà chỉ vì Em, và chỉ vì Em.   

Chính xác trên đĩa cho máy thu thanh
Dấu vân tay hãy vẫn còn in vết
Không có chúng thì anh đây cô độc!
Em hãy đến vì Thượng Đế, vì Em.  

Không ở Petersburg, không ở Leningrad –
Trên bầu trời ở Nevsky anh đã sống cùng em.
Vào trán của anh em hãy lắp thêm con mắt
Vì lợi ích của em thôi. Bởi đấy là tình.

Có ít dũng cảm trong mơ ước của anh
Đời sống ảo vẫn đêm ngày giục giã
Anh giải thoát cho em những gì xấu hổ
Là bởi vì Em, và chỉ vì Em. 

Mặc người ta giễu nhại những lời anh
Nhưng ngày mai ba hoa thành thực tế.
Nếu anh chết, hãy sinh anh lần nữa –
Hãy sinh ra anh vì Thượng Đế, vì Em. 

Ради тебя

Ради тебя надрываюсь на радио – 
вдруг ты услышишь, на службу идя, 
я в этой жизни живу Тебя ради. 
ради Тебя. 

Я тренажёры кручу Тебя ради, 
на пустом месте педали крутя. 
В жизни, похоже, я кем-то украден. 
И надо мною кружат ястреба.

Между убийцами выбор и пройдами. 
Не ради «зелени» и тряпья, 
не для народа я пел, не для Родины – 
ради Тебя, ради Тебя.

Точно на диске для радиолы 
дактилоскопическая резьба – 
без твоих пальчиков мне одиноко! 
Приди ради Бога, ради Тебя.

Не в Петербурге, не в Ленинграде – 
в небе над Невским мы жили с тобой. 
Третий глаз в лоб мне ввинтишь Тебя 
     ради 
антикокардой. Это любовь. 

В моих фантазиях мало доблести, 
жизнь виртуальную торопя, 
я отучаю тебя от комплексов ради 
Тебя, ради Тебя.

Пусть пародийны мои парадигмы. 
Но завтра сбудется трепотня. 
Если умру я, повторно роди меня – 
роди ради Бога, ради Тебя.


MẶC NHỮNG BẢN XẾP HẠNG

Mặc những bảng xếp hạng
Người tranh luận khắp nơi.
Trong thời tệ hại này 
Anh và em vẫn sống.

Vui, vì hai chúng mình
Đời thế nào cứ mặc
Vui, vì anh hòa nhập
Không thời đại, mà Em.

Пусть другие ваши рейтинги

Пусть другие ваши рейтинги 
обсуждают широко. 
В самом страшном из столетий 
нам с тобою – хорошо. 

Хорошо, что нашей паре 
по хую всё, ангел мой. 
Хорошо, что мы совпали 
не с эпохой, а с Тобой.



KHÔNG BAO GIỜ

Anh sẽ chia tay và sẽ quên em
Khi thứ tư sẽ biến thành thứ sáu
Khi hoa hồng nở đầy khắp mọi nẻo
Và xanh lên như trứng sáo màu xanh
Khi tiếng chuột kêu gà gáy hóa thành  
Khi ngôi nhà sẽ xây trên ống khói
Khi giò chả ăn thịt những người trần
Và khi với em sẽ làm đám cưới. 

Никогда

Я тебя разлюблю и забуду,
когда в пятницу будет среда,
когда вырастут розы повсюду,
голубые, как яйца дрозда,
когда мышь прокричит “кукареку”,
когда дом постоит на трубе,
когда съест колбаса человека
и когда я женюсь на тебе.


HAI NGÔI TRƯỜNG

Hai ngôi trường – đàn ông và phụ nữ.
Hai trường phái – là văn xuôi và thơ
Sao lại tách ra? Tôi không biết nữa.
Tôi từng hát cả hit lẫn đồng ca.

Người phân loại tỉ mỉ
Hãy đem thử cả đôi –
Bằng thơ hay văn xuôi
Từng sống đời thi sĩ?

Две школы – женская, мужская

Две школы – женская, мужская.
Две школы – проза и стихи.
Зачем их разлучать? Не знаю.
Я пел хоралы и хиты.

Классификатор скрупулёзный,
поди попробуй разними –
стихами были или прозой
поэтом прожитые дни?


HOÀI NIỆM VỀ HIỆN TẠI

Tôi không biết những người khác thì sao
Nhưng cảm thấy điều vô cùng nghiệt ngã
Là hoài niệm không phải về quá khứ –
Mà lại về những ngày tháng hôm nay. 

Như con chiên muốn đến với Chúa Trời
Nhưng để đến đấy phải qua cha xứ
Tôi xin cầu khẩn và tôi năn nỉ
Bỏ qua trung gian đến với hôm nay. 

Dường như tôi làm gì đó lạc loài
Hoặc không phải tôi – mà ai khác vậy
Tôi ngã xuống trên đất – và cảm thấy
Một điều gì hoài niệm với đất đai. 

Chẳng có ai chia rẽ được chúng mình
Nhưng mỗi lần tôi ôm em rất chặt
Tôi ôm em với nỗi buồn da diết
Có vẻ như ai đó lấy mất em.

Không có gì chuộc lại sự cô đơn
Dù trong vườn có xưởng làm đồ mộc.
Tôi thấy buồn không phải vì nghệ thuật
Mà thấy thương cho ngày tháng đang còn. 

Khi tôi nghe ra trong đoạn văn dài
Của người nào đó đã từng vấp váp
Tôi không tìm bản sao – mà bản gốc
Và thấy buồn cho ngày tháng hôm nay. 

Tất cả bằng nhựa, dù là giẻ rách
Chán sống theo những khuôn phép sơ sài
Tôi và em không còn ở tương lai
May chỉ có theo nhà thờ được phép… 

Khi một lũ mafia ngu đần
Cười vào mặt tôi không cần gìn giữ
Tôi nói rằng: “Kẻ ngu – trong quá khứ
Còn hiện tại hiểu biết đang lớn dần”.  

Dòng nước đen từ vòi nước chảy ra
Dòng nước đỏ bây giờ đang tuôn chảy
Dòng nước rỉ từ vòi kia cũng vậy 
Tôi đợi chờ – dòng nước thật chảy ra. 

Những gì đã qua thì đã đi qua
Nhưng tôi cắn nó như điều bí ẩn
Là hoài niệm về những ngày đang sống.
Rằng sẽ đến. Nhưng tôi chẳng tìm ra. 

Ностальгия по настоящему

Я не знаю, как остальные,
но я чувствую жесточайшую
не по прошлому ностальгию —
ностальгию по настоящему.

Будто послушник хочет к господу,
ну а доступ лишь к настоятелю —
так и я умоляю доступа
без посредников к настоящему.

Будто сделал я что-то чуждое,
или даже не я — другие.
Упаду на поляну — чувствую
по живой земле ностальгию.

Нас с тобой никто не расколет.
Но когда тебя обнимаю —
обнимаю с такой тоскою,
будто кто-то тебя отнимает.

Одиночества не искупит
в сад распахнутая столярка.
Я тоскую не по искусству,
задыхаюсь по настоящему.

Когда слышу тирады подленькие
оступившегося товарища,
я ищу не подобья — подлинника,
по нему грущу, настоящему.

Все из пластика, даже рубища.
Надоело жить очерково.
Нас с тобою не будет в будущем,
а церковка...

И когда мне хохочет в рожу
идиотствующая мафия,
говорю: «Идиоты — в прошлом.
В настоящем рост понимания».

Хлещет черная вода из крана,
хлещет рыжая, настоявшаяся,
хлещет ржавая вода из крана.
Я дождусь — пойдет настоящая.

Что прошло, то прошло. К лучшему.
Но прикусываю, как тайну,
ностальгию по-настоящему.
Что настанет. Да не застану.



QUI TẮC ỨNG XỬ TẠI BÀN TIỆC

Cứ cắt bánh bằng tay
Và chấm gà vào muối
Nhưng một điều, tôi lạy –
Đừng sờ nhạc bằng tay!

Lục dưới bình tìm dưa
Quí bà ngồi bên phải
Dù dây dẫn điện đấy
Không dùng nhạc bằng tay. 
  
Nhạc ngang với tâm hồn
Cứ lấy đồng bạc rách
Nhưng bàn tay dù sạch
Đừng lấy nhạc bằng tay. 

Tiến bộ hay thù nghịch
Duy vật cùng chúng tôi
Nhưng nhạc – thực thể khác
Không dùng miệng dùng môi. 

Dù ăn xúp bằng tay
Nhưng nhạc – thì tai họa!
Để người không chặt nó
Đừng sờ nhạc bằng tay.

Правила поведения за столом

Уважьте пальцы пирогом, 
в солонку курицу макая, 
но умоляю об одном – 
не трожьте музыку руками! 

Нашарьте огурец со дна 
и стан справасидящей дамы, 
даже под током провода – 
но музыку нельзя руками.

Она с душою наравне. 
Берите трешницы с рублями, 
но даже вымытыми не 
хватайте музыку руками. 
  
И прогрессист и супостат, 
мы материалисты с вами, 
но музыка – иной субстант, 
где не губами, а устами...

Руками ешьте даже суп, 
но с музыкой – беда такая! 
Чтоб вам не оторвало рук, 
не трожьте музыку руками.