Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

Thơ tình William Shakespeare

William Shakespeare

Trọn bộ 154 Sonnets:




Sonnet 087

Thôi vĩnh biệt! Anh chẳng còn đủ sức 
Để giữ em như một vật đắt tiền 
Nên anh đã chọn con đường giải thoát 
Để cho em khỏi vướng víu, ưu phiền. 

Đối với anh- tình em là qùa tặng 
Nhưng mà anh chẳng xứng với món qùa 
Hay biết đâu do số trời định sẵn 
Phận nghèo hèn sao dám ước phù hoa? 

Khi trao tình em chẳng cần suy nghĩ 
Hay là em chưa hiểu hết về anh? 
Để bây giờ khi tình yêu dang dở 
Thì xin em hãy nhận lại, thôi đành. 

Anh chỉ còn em trong giấc mộng say: 
Ngỡ ông Hoàng nhưng tỉnh dậy mất ngai 

087 
Farewell! thou art too dear for my possessing, 
And like enough thou know'st thy estimate, 
The charter of thy worth gives thee releasing: 
My bonds in thee are all determinate. 

For how do I hold thee but by thy granting, 
And for that riches where is my deserving? 
The cause of this fair gift in me is wanting, 
And so my patent back again is swerving. 

Thy self thou gav'st, thy own worth then not knowing, 
Or me to whom thou gav'st it, else mistaking, 
So thy great gift upon misprision growing, 
Comes home again, on better judgement making. 

Thus have I had thee as a dream doth flatter, 
In sleep a king, but waking no such matter. 


Sonnet 093

Anh vẫn sống như ngày em chung thủy 
Như người chồng bị phụ bạc làm thinh 
Dù trái tim chẳng còn trao anh nữa 
Đôi mắt em vẫn chan chứa ân tình. 

Trong mắt em không có điều thù hận 
Nên nhìn vào anh không biết đổi thay 
Bao người khác nếu trong lòng gian lận 
Qua mắt nhìn người ta nhận ra ngay. 

Nhưng có lẽ theo ý trời tai ác: 
Gương mặt em chỉ mang nét ngọt ngào 
Và con tim cho dù yêu người khác 
Thì mắt nhìn vẫn say đắm, khát khao. 

Như quả táo Êva hái trong vườn cấm 
Độc ác bên trong nhưng bề ngoài hấp dẫn. 

093 
So shall I live, supposing thou art true, 
Like a deceived husband, so love's face, 
May still seem love to me, though altered new: 
Thy looks with me, thy heart in other place. 

For there can live no hatred in thine eye, 
Therefore in that I cannot know thy change, 
In many's looks, the false heart's history 
Is writ in moods and frowns and wrinkles strange. 

But heaven in thy creation did decree, 
That in thy face sweet love should ever dwell, 
Whate'er thy thoughts, or thy heart's workings be, 
Thy looks should nothing thence, but sweetness tell. 

How like Eve's apple doth thy beauty grow, 
If thy sweet virtue answer not thy show. 


Sonnet 097

Anh như sống giữa mùa đông ảm đạm 
Sao niềm vui ngắn ngủi có vậy thôi! 
Ngày không em là giá băng u ám 
Tháng mười hai trơ trụi cả đất trời! 

Nhưng thực ra chỉ vừa qua mùa hạ 
Muôn loài cây đang chín rộ trong vườn 
Rồi mùa thu đến như người quả phụ 
Mang khối tình đã góa bụa, cô đơn. 

Anh cứ ngỡ thảy muôn loài cây quả 
Tự lọt lòng đã chịu kiếp mồ côi 
Ngày không em hè cũng thành đông giá 
Chim họa mi thôi tiếng hát cho đời. 

Đất trời vang lên tiếng hú u mê 
Sợ mùa đông băng giá đã gần kề. 

097 
How like a winter hath my absence been 
From thee, the pleasure of the fleeting year! 
What freezings have I felt, what dark days seen! 
What old December's bareness everywhere! 

And yet this time removed was summer's time, 
The teeming autumn big with rich increase, 
Bearing the wanton burden of the prime, 
Like widowed wombs after their lords' decease: 

Yet this abundant issue seemed to me 
But hope of orphans, and unfathered fruit, 
For summer and his pleasures wait on thee, 
And thou away, the very birds are mute. 

Or if they sing, 'tis with so dull a cheer, 
That leaves look pale, dreading the winter's near. 


Sonnet 109

Đừng nghĩ anh có điều chi gian dối 
Tuy cách xa ngọn lửa cháy trầm hơn 
Nhưng lòng anh, tấm lòng không thay đổi 
Vẫn trong em, hồn vẫn ở trong hồn. 

Em là cõi tình yêu mà mỗi bận 
Dù gần xa anh lại vẫn đi về 
Cứ đều đặn như con ong cần mẫn 
Mang nước về làm dịu những cơn mê. 

Đừng bao giờ tin, dù anh yếu đuối 
Vì những đam mê ngự trị trong tim 
Nhưng chẳng bao giờ đi xa đến nỗi 
Để trong hồn thiếu vắng bóng hình em. 

Không có em cả vũ trụ sẽ buồn 
Cuộc đời này chỉ còn lại cô đơn. 

109 
O never say that I was false of heart, 
Though absence seemed my flame to qualify, 
As easy might I from my self depart, 
As from my soul which in thy breast doth lie: 

That is my home of love, if I have ranged, 
Like him that travels I return again, 
Just to the time, not with the time exchanged, 
So that my self bring water for my stain, 

Never believe though in my nature reigned, 
All frailties that besiege all kinds of blood, 
That it could so preposterously be stained, 
To leave for nothing all thy sum of good: 

For nothing this wide universe I call, 
Save thou my rose, in it thou art my all. 


Sonnet 124

Tình của tôi như đứa bé không cha
Hay đứa con của nữ thần may mắn
Bị thời gian coi thường hay quí trọng
Thuộc về loài cỏ dại hoặc loài hoa?

Tình không do điều ngẫu nhiên tạo dựng
Không phô trương, không lộng lẫy tưng bừng
Không ngại gì những mất mát đau thương
Không sợ dù trời mưa hay trời nắng. 

Tình của tôi không sợ gì thủ đoạn
Không sợ lời đe dọa hoặc quyền hành
Tình vẫn lớn lên theo cách của mình
Tình của tôi không sợ ngày cuối tận. 

Tình là gương cho những kẻ ngu đần
Sống – lầm lỗi, chết – là sự tốt lành. 

124
If my dear love were but the child of state,
It might for Fortune's bastard be unfathered,
As subject to Time's love, or to Time's hate,
Weeds among weeds, or flowers with flowers gathered.

No, it was builded far from accident;
It suffers not in smiling pomp, nor falls
Under the blow of thralled discontent,
Whereto th'inviting time our fashion calls;

It fears not Policy, that heretic,
Which works on leases of short-numb'red hours,
But all alone stands hugely politic,
That it nor grows with heat, nor drowns with show'rs.

To this I witness call the fools of time,
Which die for goodness, who have lived for crime.


Xem thêm:

Thơ tình William Blake & John Donne

 William Blake 


BÍ MẬT CỦA TÌNH 

Đừng bao giờ về tình
Với người bằng lời nói
Bởi lời theo gió thổi
Lặng lẽ và vô hình.

Tôi nói hết với em
Những lời chất trong ngực
Lạnh run trong nước mắt
Sao tình vội đi nhanh!

Sau đó kẻ du hành
Đi qua đường lặng lẽ
Vô hình và kín kẽ
Sao tình thổn thức lên.



Love's Secret

Never seek to tell thy love,   
  Love that never told can be;   
For the gentle wind doth move   
  Silently, invisibly.   
  
I told my love, I told my love,
  I told her all my heart,   
Trembling, cold, in ghastly fears.   
  Ah! she did depart!   
  
Soon after she was gone from me,   
  A traveller came by,
Silently, invisibly:   
  He took her with a sigh.


HOA HUỆ

Hoa hồng e lệ có gai che chở
Còn cặp sừng bảo vệ chú cừu non
Nhưng hoa huệ với sắc đẹp trắng trong
Chỉ tình yêu – huệ không cần gì cả.

The Lilly

The modest Rose puts forth a thorn,
The humble sheep a threat’ning horn:
While the Lily white shall in love delight,
Nor a thorn nor a threat stain her beauty bright.


VƯỜN TÌNH

Tôi trở lại khu vườn tình yêu xưa
Nơi đùa chơi trên cỏ hoa ngày bé
Lại nhìn thấy tháp chuông của nhà thờ
Đứng giữa màu xanh ngập tràn hoa cỏ.

Những cánh cửa tháp chuông đóng im lìm
“Không được mở” – chữ đề trên cánh cửa
Tôi quay trở lại với khu vườn tình
Đâu rồi cỏ hoa êm đềm ngày cũ?

Tôi nhìn quanh, bốn phía toàn mồ mả
Bên một nấm mồ cha mặc áo đen
Đọc bản thánh ca, giọng trầm buồn bã
Niềm vui tôi tan vào bụi tầm xuân.



The Garden of Love

I went to the Garden of Love, 
And saw what I never had seen: 
A Chapel was built in the midst, 
Where I used to play on the green. 

And the gates of this Chapel were shut, 
And Thou shalt not. writ over the door; 
So I turn'd to the Garden of Love, 
That so many sweet flowers bore. 

And I saw it was filled with graves, 
And tomb-stones where flowers should be: 
And Priests in black gowns, were walking their rounds, 
And binding with briars, my joys & desires.


TUYẾT MỀM

Tôi ra đường vào một ngày tuyết rơi
Tôi bảo Tuyết hãy chơi cùng với tôi
Vừa mới chút đã dịu dàng tan chảy
Để Mùa đông gọi ngang tội giết người.

Soft Snow

I walked abroad in a snowy day;
I asked the soft snow with me to play;
She played and she melted in all her prime,
And the winter called it a dreadful crime.


CÂY THUỐC ĐỘC

Khi người bạn của tôi làm tôi giận
Tôi ghìm lòng và cơn giận qua mau
Khi kẻ thù của tôi làm tôi giận
Tôi lặng im nhưng cơn giận dâng trào.

Tôi giấu nó trong sợ hãi xa xôi
Đêm và sáng cùng nước mắt của tôi
Với mưu chước mềm mỏng và gian dối
Và tôi đem sưởi ấm bằng nụ cười.

Và nó lớn lên, đêm cũng như ngày
Như quả táo đã chín ở trên cây
Khi kẻ thù của tôi nhìn thấy nó
Thì nhận biết rằng chính nó của tôi.

Thế rồi cũng đến một đêm tối trời
Kẻ thù lẻn vào khu vườn của tôi
Và sáng ra tôi vui mừng nhận thấy
Kẻ thù tôi nằm bất động dưới cây.

A Poison Tree

I was angry with my friend; 
I told my wrath, my wrath did end. 
I was angry with my foe: 
I told it not, my wrath did grow. 

And I waterd it in fears, 
Night & morning with my tears: 
And I sunned it with smiles, 
And with soft deceitful wiles. 

And it grew both day and night. 
Till it bore an apple bright. 
And my foe beheld it shine, 
And he knew that it was mine. 

And into my garden stole, 
When the night had veild the pole; 
In the morning glad I see; 
My foe outstretched beneath the tree.


CHÚA SƠN LÂM

Chao ôi hổ! Hổ cháy bừng như lửa
Chúa sơn lâm bừng cháy giữa rừng đêm
Ánh mắt nào, bàn tay nào bất tử
Có thể tạo ra cái vẻ kinh hoàng.

Giữa trời cao, hay chốn nào sâu thẳm
Đôi mắt của ngươi rực lửa cháy lên?
Và nỗi khát khao nào trên đôi cánh?
Bàn tay nào ngọn lửa dám tịch biên?

Bờ vai nào, và từ đâu nghệ thuật
Tạo đường gân thớ thịt của con tim?
Mỗi khi con tim dồn lên nhịp đập
Chân tay nào tạo nên vẻ khiếp kinh?

Đe búa nào, và từ đâu xiềng xích?
Trong thử thách nào trí tuệ của ngươi?
Đã nhào nặn ra vòng vây khủng khiếp
Và cái ôm choàng sợ hãi không thôi?

Khi những vì sao tung ngọn giáo của ngươi
Và khi bầu trời tuôn ra dòng lệ
Thấy việc làm của mình có mỉm cười?
Cái người tạo ra cừu non và hổ?

Chao ôi hổ! Hổ cháy bừng như lửa
Chúa sơn lâm bừng cháy giữa rừng đêm
Ánh mắt nào, bàn tay nào bất tử
Dám tạo ra ngươi với vẻ kinh hoàng?

The Tyger 

Tyger Tyger, burning bright, 
In the forests of the night; 
What immortal hand or eye, 
Could frame thy fearful symmetry? 

In what distant deeps or skies. 
Burnt the fire of thine eyes? 
On what wings dare he aspire? 
What the hand, dare seize the fire? 

And what shoulder, & what art, 
Could twist the sinews of thy heart? 
And when thy heart began to beat, 
What dread hand? & what dread feet? 

What the hammer? what the chain, 
In what furnace was thy brain? 
What the anvil? what dread grasp, 
Dare its deadly terrors clasp! 

When the stars threw down their spears 
And water'd heaven with their tears: 
Did he smile his work to see? 
Did he who made the Lamb make thee? 

Tyger Tyger burning bright, 
In the forests of the night: 
What immortal hand or eye, 
Dare frame thy fearful symmetry?


TÌNH YÊU TAN VỠ

1
Bóng ma của tôi suốt đêm suốt ngày
Như con thú vẫn rình rập quanh tôi
Sự khởi nguồn của tôi không ngừng nghỉ
Vẫn khóc than cho tội lỗi của tôi.

2
Trong chiều sâu vô tận và vô cùng
Ta lang thang lặng lẽ, ta khóc thầm
Trong cơn gió đói và cơn gió khát
Bóng ma tôi len lỏi đến gần em.

3
Nó đi lần trên tuyết dấu chân em
Dù em đi đâu, dù xa hay gần
Cho dù mưa giông, cho dù mưa đá
Có khi nào em quay trở về không?

4
Chẳng phải tự hào, khinh bỉ của em
Làm buổi sáng của tôi thành cơn giông
Chẳng phải vì ghen tuông và sợ hãi
Để tôi hằng đêm nước mắt tuôn ròng?

5
Chẳng phải bảy lần con dao của em
Làm cho cuộc đời, tình yêu đau thương
Và tôi xây bảy ngôi mồ cẩm thạch
Bằng giọt nước mắt lạnh lẽo rùng mình.

6
Và bảy người yêu nữa khóc đêm ngày
Quanh nấm mồ, nơi tình yêu của tôi
Bảy người yêu khác mỗi đêm lại đến
Bên chiếc giường với ngọn đuốc trong tay.

7
Bảy người yêu cúi xuống trong đau buồn
Đội vương miện cho kẻ nằm trên giường
Với tấm lòng bao dung và thương hại
Tha thứ cho em tất cả lỗi lầm.

8
Có khi nào em quay trở về không
Để làm cho sống lại những người tình?
Để cho tôi thôi tuôn dòng nước mắt
Và bỏ qua như tôi đã từng không?

9
Không quay về – anh đừng đợi đừng trông
Tôi là người chiến thắng nhạo cười anh
Khi còn sống – tôi là người yêu dấu
Khi chết rồi – là ngôi mộ của anh.

10
Qua mặt đất, địa ngục và thiên đường
Không còn rào cản và không ngại ngùng
Chuyến bay của tôi kéo dài xuyên suốt
Xuyên suốt những ngày xuyên suốt những đêm.

11
Bộ dạng nhợt nhạt, xanh xao, đáng thương.
Rằng tôi đang theo sau một cơn giông
Nước mắt, tiếng rên giống như chì nặng
Trói quanh đầu tôi chẳng khác gông xiềng. 

12
Tôi khóc trong vô vọng trước vô biên
Cho đến khi với tình tôi quay lưng
Và sau đó để hoàn toàn có thể
Xứng đáng bước vô trong cõi vĩnh hằng.

13
Và để cho nhạo báng khỏi nhân lên
Trên vách đá tôi đành hủy diệt em
Rồi sẽ tạo ra một hình thức khác
Để phụng sự cho số phận của mình.

14
Và thế rồi xuyên suốt cả vĩnh hằng
Em tha thứ cho tôi, tôi cho em
Giống như những lời từng ban của Chúa:
“Đây là bánh mì, còn đây rượu vang”*. 
_____________________
1)Bài thơ này được Blake đánh số đầu tiên có 14 khổ. Tuy nhiên, trong các ấn bản tiếng Anh khác nhau có thể có 15 hoặc 17 khổ nhưng cũng chỉ đánh số 14 là khổ cuối cùng. Điều này cho phép chúng tôi dịch theo số khổ mà chúng tôi cho là tự nhiên và hợp lý nhất.

2)Đây là một trong những bài thơ quan trọng nhất của William Blake có chủ đề liên quan mật thiết đến các tác phẩm lớn trong thời kỳ trưởng thành của ông. Trong bản gốc nó không có tên, tức là nó được đặt theo dòng đầu tiên: “My Spectre around me night & day”. Trong lần xuất bản đầu tiên của anh em Rossetti (1863), nó có tựa đề “Broken Love” (Tình yêu tan vỡ). Và trong ấn bản của Yeats (1905), được đổi tên thành “Spectre and Emanation” (Bóng ma và sự khởi nguồn), và những cái tên này vẫn được giữ nguyên tùy lúc, tùy theo người gọi.

Bài thơ bắt đầu bằng lời tự sự của tác giả, sau đó chuyển thành cuộc đối thoại giữa hồn ma và sự khởi đầu, cho thấy mối bất hòa sâu sắc của họ, khiến một người đau khổ. Trong bài thơ này, Blake được cho là đã miêu tả và phân tích một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Có vẻ như cuộc đối thoại này phản ánh một số loại hoàn cảnh gia đình tương tự, và trong trường hợp này, nó có thêm sự quan tâm về tiểu sử. Cuộc hôn nhân của Blake với Catherine Boucher, con gái của một người làm vườn giản dị, vô cùng hạnh phúc. Blake dạy cô đọc, viết và vẽ, cho cô một nền giáo dục, theo nghĩa đen là “tạo ra” cô, khiến cô trở thành hiện thân thực sự của ông. Hòa bình, hòa hợp và tình yêu luôn ngự trị trong mối quan hệ của họ, Catherine luôn giúp đỡ và hỗ trợ William. Tuy nhiên, mối quan hệ này không phải lúc nào cũng cơm lành canh ngọt, có những giai đoạn phức tạp, hiểu lầm, khác biệt về quan điểm, điều này được gợi ý trong một số tác phẩm của Blake, mà đặc biệt là trong tác phẩm này. 

*Ở đây Blake trích dẫn những lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ, về Bí tích Thánh Thể, hoặc về Tiệc Thánh do Ngài thiết lập trong Bữa Tiệc Ly: “26Khi đương ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn-đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân-thể ta. 27Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi đưa cho môn-đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi; 28vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao-ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội. 29Ta phán cùng các ngươi, từ rày về sau, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong nước của Cha ta”. (Phúc âm Ma-thi-ơ, 26: 26-29; Xem thêm Mác, 14: 22 – 24; Luca, 22: 19 – 20). 


Broken Love

1
MY Spectre around me night and day
Like a wild beast guards my way;
My Emanation far within
Weeps incessantly for my sin.

2
‘A fathomless and boundless deep,
There we wander, there we weep;
On the hungry craving wind
My Spectre follows thee behind.

3
‘He scents thy footsteps in the snow
Wheresoever thou dost go,
Thro’ the wintry hail and rain.
When wilt thou return again?

4
’Dost thou not in pride and scorn
Fill with tempests all my morn,
And with jealousies and fears
Fill my pleasant nights with tears?

5
‘Seven of my sweet loves thy knife
Has bereavèd of their life.
Their marble tombs I built with tears,
And with cold and shuddering fears.

6
‘Seven more loves weep night and day
Round the tombs where my loves lay,
And seven more loves attend each night
Around my couch with torches bright.

7
‘And seven more loves in my bed
Crown with wine my mournful head,
Pitying and forgiving all
Thy transgressions great and small.

8
‘When wilt thou return and view
My loves, and them to life renew?
When wilt thou return and live?
When wilt thou pity as I forgive?’

9
‘Never, never, I return:
Still for victory I burn.
Living, thee alone I’ll have;
And when dead I’ll be thy grave.

10
‘Thro’ the Heaven and Earth and Hell
Thou shalt never, quell:
I will fly and thou pursue:
Night and morn the flight renew.’

11
‘Poor, pale, pitiable form
That I follow in a storm;
Iron tears and groans of lead
Bind around my aching head.

12
‘Till I turn from Female love
And root up the Infernal Grove,
I shall never worthy be
To step into Eternity.

13
‘And, to end thy cruel mocks,
Annihilate thee on the rocks,
And another form create
To be subservient to my fate.

14
‘And throughout all Eternity
I forgive you, you forgive me.
As our dear Redeemer said:
“This the Wine, and this the Bread.”’
1800-1803


NHỮNG LỜI TIÊN ĐOÁN NGÂY THƠ
(Trích một số khổ)

Trong hạt cát ta nhìn ra Thế giới
Cả Thiên đường trong một bông hoa dại
Trong một giờ khắc có cả Vĩnh hằng
Và Vô tận trong bàn tay giữ lấy.
………………………..
……………………….
Và cứ mỗi đêm và cứ mỗi ngày
Có những đứa trẻ sinh ở đâu đây.
Cứ mỗi ngày rồi mỗi đêm như vậy
Có người sinh ra sung sướng suốt đời
Có người sinh ra suốt đời khổ ải
Họ sinh ra trong bất tận đêm dài.

……………………………
……………………………
Chúng ta dễ tin những điều gian dối
Khi mắt ta nhìn mà không nhìn thấy
Sinh ra trong đêm rồi chết trong đêm
Khi hồn ngủ quên trong ánh sáng chùm. 

Và Chúa xuất hiện, Chúa là ánh sáng
Cho những linh hồn tội nghiệp trong đêm
Nhưng trong hình dáng của con người trần
Cho những ai đã quen cùng ánh sáng.

Auguries of Innocence

To see a World in a grain of sand,
And a Heaven in a wild flower,
Hold Infinity in the palm of your hand,
And Eternity in an hour.
…………………..
…………………..  
Every Night and every Morn
Some to Misery are Born.
Every Morn and every Night
Some are Born to sweet delight.
Some are Born to sweet delight,
Some are Born to Endless Night.
………………..
………………..
We are led to believe a lie
When we see not thro' the eye,
Which was born in a night to perish in a night,
When the soul slept in beams of light.

God appears, and God is light,
To those poor souls who dwell in night;
But does a human form display
To those who dwell in realms of day.

47 bài Song Ngữ

John Donne

CON BỌ CHÉT

Hãy xem kìa, con bọ chét chỉ là vớ vẩn
Nhưng ở đấy có điều mà em đã chối từ anh
Bọ chét đã hút máu của anh và máu của em
Trong bọ chét máu của hai chúng mình trộn lẫn.
Có một điều này mà hai ta cần thừa nhận
Chẳng phải lỗi lầm hay là chuyện tiết trinh
Hay xấu hổ, mà có biết bao nhiêu sung sướng
Nơi trộn lẫn máu của anh và máu của em
Điều này nhiều hơn những gì mà ta được nhận.

Em hãy đừng nghiệt ngã một cách mù quáng
Giết con bọ chét là giết chết ba cuộc đời
Dù sao thì ta đã nhận biết được điều này
Ta nhận biết chiếc giường và ngôi đền bọ chét
Mặc cha mẹ càu nhàu, mặc tin đồn thất thiệt
Ta hòa nhập ở đây, trong bọ chét này
Tội sẽ lớn vô cùng nếu em đem giết
Giết chết con bọ chét là phạm tội ba lần
Vì giết hai cuộc đời và giết thánh thần.

Nhưng dù sao thì rồi những móng tay em
Đã làm cho dòng máu vô tội kia đổ xuống
Máu của bọ chét thì đâu có gì lỗi lầm
Chỉ vì những giọt máu mà bọ chét kia đã uống?
Từ những mất mát kia em vốn coi là nhỏ mọn
Không có gì ảnh hưởng đến em và đến anh
Thì thôi, nếu đã không có gì ghê gớm
Trong cái lần hòa nhập của em và anh
Thì cái chết của bọ chét kia… chỉ là vớ vẩn.


The Flea

Mark but this flea, and mark in this,
How little that which thou deniest me is;
It suck'd me first, and now sucks thee,
And in this flea our two bloods mingled be.
Thou know'st that this cannot be said
A sin, nor shame, nor loss of maidenhead;
Yet this enjoys before it woo,
And pamper'd swells with one blood made of two;
And this, alas ! is more than we would do.

O stay, three lives in one flea spare,
Where we almost, yea, more than married are.
This flea is you and I, and this
Our marriage bed, and marriage temple is.
Though parents grudge, and you, we're met,
And cloister'd in these living walls of jet.
Though use make you apt to kill me,
Let not to that self-murder added be,
And sacrilege, three sins in killing three.

Cruel and sudden, hast thou since
Purpled thy nail in blood of innocence?
Wherein could this flea guilty be,
Except in that drop which it suck'd from thee?
Yet thou triumph'st, and say'st that thou
Find'st not thyself nor me the weaker now.
'Tis true; then learn how false fears be;
Just so much honour, when thou yield'st to me,
Will waste, as this flea's death took life from thee.


BUỔI SÁNG

Trước khi mình yêu, có phải em và anh
Có phải chưa bao giờ chúng mình xa nhau cả?
Và có phải mình đã từng đùa vui trên hoa cỏ?
Có phải hai đứa đã từng ngủ ở trong hang?
Nhưng tất cả những điều này quả đến lạ lùng.
Hễ mắt anh nhìn thấy vẻ đẹp nào như thế
Là lại khát khao, lại mơ ước về em.

Và giờ đây mỗi buổi sáng hai chúng mình
Đã không còn nhìn thấy nhau, trong nỗi sợ
Tình làm cho cả thế gian trở thành xa lạ
Căn phòng nhỏ này trở thành rộng mênh mông.
Thì cứ mặc cho những nhà thám hiểm sẽ đi tìm
Và cứ để cho họ sẽ mở ra những bến bờ xa lạ
Nhưng chỉ một thế giới này của anh và em.

Gương mặt anh trong mắt em và em trong anh
Hai con tim chân thành cùng chung nhịp đập
Còn ở đâu tìm ra hai nửa bán cầu
Mà đã lặng phía Tây, đã yên phía Bắc
Sẽ mất đi những thứ vô tình trộn lẫn vào nhau
Nhưng nếu như hai tình yêu hòa chung làm một
Thì nghĩa là chúng mình còn mãi đến nghìn sau. 


The Good-Morrow

I wonder, by my troth, what thou and I
Did, till we loved? were we not weaned till then,
But sucked on country pleasures, childishly?
Or snorted we in the seven sleepers' den?
'Twas so; but this, all pleasures fancies be.
If ever any beauty I did see,
Which I desired, and got, 'twas but a dream of thee.

And now good morrow to our waking souls,
Which watch not one another out of fear;
For love all love of other sights controls,
And makes one little room an everywhere.
Let sea discovers to new worlds have gone,
Let maps to others, worlds on worlds have shown:
Let us possess one world; each hath one, and is one.

My face in thine eye, thine in mine appears,
And true plain hearts do in the faces rest;
Where can we find two better hemishperes,
Without sharp North, without declining West?
Whatever dies was not mixed equally;
If our two loves be one, or thou and I
Love so alike that none do slacken, none can die.

Một số nhà thơ Anh khác:

Percy Bysshe Shelley
William Butler Yeats
Rudyard Kipling
Robert Burns
Thomas Moore
Lord Byron
William Shakespeare

.......................................................

Thơ tình John Keats


John Keats


SONNET

Ngày ra đi, tất cả mang theo mình
Giọng nói ngọt ngào, bờ môi, ánh mắt
Ngực ấm áp và những lời đùa cợt
Bàn tay êm và tiếng thổn thức lòng.

Tất cả nhạt phai, hoa cũng héo tàn
Trong đôi mắt đã tàn phai nhan sắc
Từ bàn tay đã không còn vẻ đẹp
Cả nhiệt tình, trinh trắng cũng héo hon.

Tất cả tiêu tan, khi bóng tối nhá nhem
Đem thay ngày lễ bằng đêm thần thánh
Bức màn hương của tình yêu buông xuống
Dành cho đam mê chỉ có bóng đêm.

Cuốn kinh tình yêu tôi đọc ban ngày
Tôi nguyện cầu giấc ngủ hãy đến đây!

Sonnet

The day is gone, and all its sweets are gone!
Sweet voice, sweet lips, soft hand, and softer breast,
Warm breath, light whisper, tender semitone,
Bright eyes, accomplished shape, and lang'rous waist!

Faded the flower and all its budded charms,
Faded the sight of beauty from my eyes,
Faded the shape of beauty from my arms,
Faded the voice, warmth, whiteness, paradise –

Vanished unseasonably at shut of eve,
When the dusk holiday -or holinight
Of fragrant-curtained love begins to weave
The woof of darkness thick, for hid delight;

But, as I've read love's missal through today,
He'll let me sleep, seeing I fast and pray.


EM VẪN NÓI RẰNG YÊU

I
Em vẫn nói rằng yêu nhưng câu trả lời
Trong giọng nói của em sao hờ hững
Nghe có vẻ giống như lời cầu nguyện
Trong tiếng ngân vang của những hồi chuông.
Hãy yêu anh thật lòng!

II
Em vẫn nói rằng yêu nhưng nụ cười em
Lạnh lẽo như ánh bình minh tháng chín
Có vẻ như thần Tình yêu sai khiến
Em nén lòng trong tuần lễ chay chăng.
Hãy yêu anh thật lòng!

III
Em vẫn nói rằng yêu nhưng đôi môi em
Không hạnh phúc, ánh bừng lên sắc đỏ
Giữa biển lớn, ngọc giấu mình trong đó
Không bao giờ chịu để một ai hôn.
Hãy yêu anh thật lòng!

IV
Em vẫn nói rằng yêu nhưng bàn tay em
Không siết chặt tay anh, không thiện cảm
Em như bức tượng, không hề sống động
Trước tình yêu cháy bỏng của anh.
Hãy yêu anh thật lòng!

V
Bằng những lời đẹp đẽ từ trái tim
Bằng nụ cười cháy bừng như ngọn lửa
Bằng nụ hôn, hãy dìm anh trong đó
Trong lửa tình hừng hực trái tim em.
Hãy yêu anh thật lòng!


You Say You Love

I
You say you love; but with a voice
Chaster than a nun's, who singeth
The soft Vespers to herself
While the chime-bell ringeth-
O love me truly!
II
You say you love; but with a smile
Cold as sunrise in September,
As you were Saint Cupid 's nun,
And kept his weeks of Ember.
O love me truly!

III
You say you love but then your lips
Coral tinted teach no blisses,
More than coral in the sea
They never pout for kisses
O love me truly!

IV
You say you love; but then your hand
No soft squeeze for squeeze returneth,
It is like a statue's dead
While mine to passion burneth
O love me truly!

V
O breathe a word or two of fire!
Smile, as if those words should bum me,
Squeeze as lovers should O kiss
And in thy heart inurn me!
O love me truly!


NGƯỜI ĐẸP KHÔNG THƯƠNG XÓT

1
"Chàng kỵ sĩ có điều chi phiền muộn
Mà đi lang thang buồn bã một mình?
Để cây bên hồ chỉ còn lá rụng
Và chẳng còn nghe tiếng hót của chim.

2
Chàng kỵ sĩ có điều chi phiền muộn
Có điều chi lo lắng ở trong lòng?
Cho chú sóc một vụ mùa đầy đặn
Đã kết thúc mùa gặt hái trên đồng.

3
Ta thấy rằng: như hoa huệ trong sương
Vầng trán ngươi ướt đầm đìa lạnh lẽo
Có điều chi đau đớn lắm trong hồn
Đôi má ngươi như hoa hồng đang héo?".

4
Ta đã gặp trên đồng người con gái
Nàng đẹp xinh tựa như một cô tiên
Mái tóc dài, gót chân nàng tươi rói
Và lẳng lơ, hoang dại ánh mắt nhìn.

5
Ta kết vòng hoa cho nàng đội lên đầu
Vòng đeo tay toả hương thơm ngào ngạt
Nàng nhìn ta với ánh mắt u sầu
Và ta nghe tiếng thở dài dịu ngọt.

6
Ta bế nàng lên yên ngựa của mình
Suốt cả ngày với nàng trong yên lặng
Nàng cất lên những bài hát của tiên
Đôi mắt nàng nhìn về nơi xa vắng.

7
Nàng trao ta cội nguồn hương dịu mát
Và những gì mật ngọt tháng ngày xanh
Rồi thốt lên những lời rất kỳ quặc:
"Em yêu anh chân thành".

8
Nàng đưa ta vào lâu đài tình ái
Nàng khóc lên và rên rỉ đau thương
Ta nhìn thấy đôi mắt nàng hoang dại
Ta khép mắt nàng bằng bốn nụ hôn.

9
Nàng vỗ về, ru ta vào giấc ngủ
Ta đi vào giấc mộng – nhưng than ôi!
Giấc mơ cuối cùng ta không còn nhớ
Rằng chỉ mình ta lạnh lẽo trên đồi.

10
Ta nằm mơ thấy hoàng tử tình si
Vẻ tái nhợt trong cơn đau gào thét:
"La Belle Dame Sans Merci
Đã bỏ ngươi mà đi không thương tiếc!"

11
Ta nhìn thấy những bờ môi khát khao
Đang gào lên những lời nghe khiếp đảm.
Ta tỉnh giấc và thấy trên đồi cao
Một mình ta nằm bên bờ dốc lạnh.

12
Từ dạo đấy ta đâm ra thờ thẩn
Vẻ xanh xao ta lảng vảng một mình
Cây bên hồ giờ chỉ còn lá rụng
Và chẳng còn nghe tiếng hót của chim.


La Belle Dame sans Merci

1
O what can ail thee, knight at arms,
Alone and palely loitering?
The sedge has wither'd from the lake,
And no birds sing.

2
O What can ail thee, knight at arms,
So haggard and so woe-begone?
The squirrel's granary is full,
And the harvest's done.

3
I see a lily on thy brow
With anguish moist and fever dew,
And on thy cheeks a fading rose
Fast withereth too.

4
I met a lady in the meads,
Full beautiful, a fairy's child;
Her hair was long, her foot was light,
And her eyes were wild.

5
I made a garland for her head,
And bracelets too, and fragrant zone;
She look'd at me as she did love,
And made sweet moan.

6
I set her on my pacing steed,
And nothing else saw all day long,
For sidelong would she bend, and sing
A fairy's song.

7
She found me roots of relish sweet,
And honey wild, and manna dew,
And sure in language strange she said—
I love thee true.

8
She took me to her elfin grot,
And there she wept, and sigh'd full sore,
And there I shut her wild wild eyes
With kisses four.

9
And there she lulled me asleep,
And there I dream'd—Ah! woe betide!
The latest dream I ever dream'd
On the cold hill's side.

10
I saw pale kings, and princes too,
Pale warriors, death pale were they all;
They cried—"La belle dame sans merci
Hath thee in thrall!"

11
I saw their starv'd lips in the gloam
With horrid warning gaped wide,
And I awoke and found me here
On the cold hill's side.

12
And this is why I sojourn here,
Alone and palely loitering,
Though the sedge is wither'd from the lake,
And no birds sing.


Về bài thơ "La Belle Dame sans Merci"

La Belle Dame sans Merci (tiếng Pháp: Người đẹp không có lòng thương xót) – là một bài ballad của John Keats. Bài thơ này có hai phiên bản với một chút ít khác nhau. Bản đầu tiên được Keats sáng tác ngày 21 tháng 4 năm 1819. Bản hiệu đính theo đề nghị của Leigh Hunt ngày 10 tháng 5 năm 1820. 

Bài thơ này lần đầu tiên in ở tạp chí The Indicator của Hunt ngày 10 tháng 5 năm 1820. La Belle Dame Sans Merci lấy lại tên trường ca của nhà thơ Pháp thời trung cổ Alain Chartier. Nguồn gốc của ballad này là truyền thuyết Tannhäuser của Đức, trường ca hiệp sĩ The Faerie Queene của Edmund Spenser và The Anatomy of Melancholy của Robert Burton (Câu chuyện về chàng hiệp sĩ sầu muộn).

Nội dung:
Bài ballad của John Keats kể về cuộc gặp gỡ của chàng kị sĩ vô danh với một nàng tiên ẩn ước. Chàng kị sĩ cô đơn, kiệt sức vì một nỗi buồn thơ thẩn trên đồng vắng. Tác giả hỏi chuyện chàng và chàng kể lại một câu chuyện. Một hôm chàng gặp người đẹp có “ánh mắt nhìn hoang dại”. Chàng bế nàng ngồi lên ngựa, thế rồi nàng dẫn chàng đi vào cõi tiên. Trong cõi này nàng đã nức nở, thổn thức. Chàng hôn lên đôi mắt hoang dại của nàng, rồi nàng vỗ về, ru chàng đi vào giấc mộng.

Trong giấc mơ chàng thấy hoàng tử tình si gào thét rằng chàng đã bị rơi vào vòng tù hãm của người đẹp và bị người đẹp giã từ không thương tiếc. Chàng kị sĩ tỉnh giấc thấy “một mình trên đồi lạnh” và kể từ dạo đấy chàng đâm ra thơ thẩn, với gương mặt tái nhợt chàng lang thang không mục đích ở cái miền mà cây cối “chỉ còn lá rụng và không còn tiếng hót của chim”.

Ý nghĩa: 
Ballad La Belle Dame Sans Merci chỉ gồm 12 khổ thơ, mỗi khổ 4 dòng nhưng là một câu chuyện đầy những bí ẩn. Keats mô tả chàng kị sĩ khiến người đọc liên tưởng đến cái chết – gương mặt tái nhợt của chàng như một bông hoa huệ (biểu tượng của cái chết trong văn hóa phương Tây), héo hon và tàn úa – có thể chàng đã chết, và trả lời câu chuyện là một bóng ma, là linh hồn của chàng. Trong nguyên bản bài ballad nói về người đẹp đã quyến rũ chàng kị sĩ, chi tiết này gần gũi với những truyền thuyết Thomas Learmonth (Thomas the Rhymer) hoặc Tam Lin.

Thông thường các kị sĩ bị ràng buộc bởi lời nguyền đạo đức, thế nhưng ở đây chàng kị sĩ của John Keats đã bị quyến rũ bởi tiên (chứ không phải người trần), nên đã bị trừng phạt. Những người phát ngôn của phái nữ quyền cho rằng kị sĩ đã hãm hiếp cô gái, do vậy Chúa đã trừng phạt chàng. Dẫn chứng cho điều này, người ta dẫn câu thơ: “she wept, and sigh’d full sore” (nàng khóc lóc, và những tiếng thở dài đau đớn).

Dù sao, sự phân tích này không thực sự thuyết phục vì trong bài thơ ta thấy rõ ràng rằng cô đã nói lời yêu chàng chân thành, đã quyến rũ chàng đi vào cõi tiên (hang động, nơi tiên ở). Thành ra câu thơ “she wept, and sigh’d full sore” có thể hiểu là cô tiên đã mất trinh tiết sau khi yêu. Cũng có thể đấy là khát khao cháy bỏng được yêu chàng. Ý nghĩa câu này phụ thuộc vào nội dung cả bài ballad: liệu đấy là một bài thơ lãng mạn, trữ tình hay tác giả có ý lồng vào một ý nghĩa đạo đức. Nếu xem xét rộng ra toàn bộ sáng tạo của John Keats thì ta có thể chắc chắn rằng đấy là câu chuyện tình cảm lãng mạn chứ Keats hoàn toàn không muốn hướng nó về trí tuệ hay luân lý.

Ảnh hưởng đến hội họa và âm nhạc: 
Nàng tiên bí ẩn La Belle Dame sans Merci trở thành nhân vật nổi tiếng trong tác phẩm của các họa sĩ nhóm tiền Raphael như: Frank Dicksee, Frank Cadogan Cowper, John William Waterhouse, Arthur Hughes, Walter Crane, Henry Maynell Rheam. Ngày 1 tháng 12 năm 1920 tạp chí Punch đã in một tiểu phẩm khôi hài về đề tài này.

Nhạc sĩ Charles Villiers Stanford phổ nhạc lời của bài thơ này thành một khúc lãng mạn nổi tiếng. Thể hiện tác phẩm này đòi hỏi người hát cũng như người đệm đàn có trình độ cao. Khúc lãng mạn này nổi tiếng cho đến ngày nay và luôn được các nghệ sĩ nổi tiếng nhất thể hiện.
Nhạc sĩ Patrick Hadley viết khúc tứ tấu cho giọng nam cao và dàn nhạc.
La Belle Dame sans Merci là nguồn cảm hứng cho Tony Banks (nhóm Genesis) viết bài hát The Lady Lies (1977). 

Một số nhà thơ Anh khác: