Thứ Hai, 1 tháng 6, 2020

Thơ tình Salvatore Quasimodo


MÀU MƯA VÀ RỈ SẮT

Ngươi nói rằng: sự im lặng, cái chết, sự cô đơn
cũng như người ta nói tình yêu và cuộc sống
đó là những lời trung chuyển.
Và ngọn gió mỗi buổi sáng rung lên
và màu mưa, rỉ sắt của thời gian
mang về trên đá
trên những lời nguyền rủa
đến sự thật hãy còn quá xa xôi.
Thì hãy nói cho ta nghe, con người
con người bị đóng đinh trên thập ác
và ngươi - đôi bàn tay máu còn dính chặt
ta biết trả lời làm sao những câu hỏi này?
và giờ đây
trước khi sự im lặng ùa vào đôi mắt
trước khi ngọn gió mới lại rung lên, và rỉ sắt
lại dâng đầy.

Colore di pioggia e di ferro

Dicevi: morte silenzio solitudine;
come amore, vita. Parole
delle nostre provvisorie immagini.
E il vento s'e levato leggero ogni mattina
e il tempo colore di pioggia e di ferro
ё passato sulle pietre,
sul nostro chiuso ronzio di maledetti.
Ancora la verita ё lontana.
E dimmi, uomo spaccato sulla croce,
e tu dalle mani grosse di sangue,
come rispondero a quelli che domandano?
Ora, ora: prima che altro silenzio
entri negli occhi, prima che altro vento
saiga e altra ruggine fiorisca.


TUYẾT

Ngọn gió cúi xuống, chia tay với các ngươi
những bóng hình yêu quí của đất đai – cây cối
con người, súc vật
trùm lên những chiếc áo khoác
những bà mẹ không biết làm sao khóc lên
và như trăng, tuyết chiếu sáng cho ta từ những cánh đồng.
Ôi những linh hồn chết trong con tim gõ nhịp.
Dù cho ai đấy phá vỡ sự lặng im bằng tiếng khóc nức nở của mình,
như áo quan, màu tuyết trắng khắp nơi như màu chết.

Neve

Scende la sera: ancora ci lasciate
immagini care della terra, alberi,
animali, povera gente chiusa    
dentro i mantelli dei soldati, madri dal
ventre inaridito dalle lacrime. E la neve
ci illumina dai prati come luna. Oh
questi morti. Battete sulla fronte,
battete fino al cuore. Che urli almeno
qualcuno nel silenzio, in questo cerchio
bianco di sepolti.


TRÊN NHỮNG RẶNG LIỄU

Chẳng lẽ ta có thể hát lên dưới gót dày
của ngoại bang, khi mà trên những quảng
trường mùa đông chất đầy xác chết
đã nhiều ngày, và con tim tan nát
vì không im tiếng khóc, tiếng nức nở của
những mẹ già có những đứa con trai bị treo
trên dây thép? Lúc này ta phải hát làm sao?
Trên những rặng liễu, giữa đồng hoang và
những cây đàn của ta nhẹ tênh, đung đưa
trong ngọn gió giá băng vô cùng buồn bã.

Alle fronde dei salici

Е come potevamo noi cantare con il
piede straniero sopra il cuore, fra i
morti abbandonati nelle piazze sull'erba
dura di ghiaccio, al lamento d'agnello
dei fanciulli, all'urlo nero della madre
che andava incontro al figlio crocifisso
sul palo del telegrafo? Alle fronde dei
salici, per voto, anche le nostre cetre
erano appese, oscillavano lievi al triste
vento.


HÒN ĐẢO ODYSSEY

Giọng nói cổ xưa quyết đoán
Và anh nghe theo tiếng vọng phù du
Cùng sự lãng quên đêm vắng
Giữa vực thẳm sao trời.

Từ ngọn lửa trời xanh
Hòn đảo Odyssey xuất hiện
Cây cối, bầu trời bơi trong đêm yên tĩnh
ở giữa bờ sông trăng.

Em yêu ơi, những con ong mang đến cho ta vàng
Thời gian âm thầm biến đổi.

Isola di Ulisse

Ferma è l'antica voce.
Odo risonanze effimere,
oblio di piena notte
nell'acqua stellata.

Dal fuoco celeste
nasce l'isola di Ulisse.
Fiumi lenti portano alberi e cieli
nel rombo di rive lunari.

Le api, amata, ci recano l'oro:
tempo delle mutazioni, segreto.


ANH CÓ MẤT MÁT GÌ ĐÂU

Anh vẫn ở đây, mặt trời vẫn quay vòng
ở sau lưng, như con đại bàng và đất
giọng của anh lặp lại ở trong em. 
và cái nhìn của thời gian tiếp tục
trong đôi mắt mở ra sự khởi đầu.
mà anh thì có mất mát gì đâu
mất mát, nghĩa là ta bước đến
giới hạn của bầu trời
dòng ước mơ và dòng sông trôi
đầy lá rụng. 

Non ho perduto nulla

Sono ancora qui, il sole gira
alle spalle come un falco e la terra
ripete la mia voce nella tua.
E ricomincia il tempo visibile
nell’occhio che riscopre la luce.
Non ho perduto nulla.
Perdere è andare di là
da un diagramma del cielo
lungo movimenti di sogni, un fiume
pieno di foglie.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét