Thứ Hai, 1 tháng 6, 2020

Thơ tình Erik Axel Karlfeldt


DƯỚI TRĂNG

Sub luna amo.*
Cô dâu tôi màu tối
Cháy lên dưới hoàng hôn
Như ánh trăng tỏa sáng
Như hoa tỏa mùi hương
Trong đêm hè nóng bỏng
Như giọt sương mai chuyển
Từ sáng đến mờ dần.

Sub luna bibo.**
Bia của tôi màu tối
Bọt bia sáng ngời lên
Và dường như dưới đáy
Những  nụ cười, ý nghĩ
Đọng lại thật ngẫu nhiên
Còn trên chiếc cốc vại
Bay những chiếc lá vàng.

Sub luna canto.***
Bài hát tôi màu tối
Như sóng vỗ dạt dào
Như đổ vào đâu đó
Như bay lên trời cao
Dịu êm và vội vã
Trẻ trung và xưa cũ
Cứ thế nối đuôi nhau.

Sub luna vivo.****
Cuộc đời tôi màu tối
Tẻ nhạt và tầm thường
Buồn bã hay hân hoan
Tôi đều đem chia sẻ
Khoái lạc và đau khổ
Của kiếp sống trần gian
Cho mình – tôi nhận đủ.

Sub luna morior.*****
Mộ của tôi màu tối
Liệu có chờ có đợi
Độ sâu của đại dương
Yên lặng của vĩnh hằng
Hay tro bụi mãi mãi
Như nỗi buồn tê tái
Bay thơ thẩn trên đồng.
____
*Yêu dưới trăng; **Uống dưới trăng; ***Hát dưới trăng; ****Sống dưới trăng; *****Chết dưới trăng.

Sub luna

Sub luna amo.
    Mörk är min brud, 
brinner i bruna kvällar,
    dansar i månglitterskrud, 
doftar som nattglim
    under en kornblixtsky, 
svalkar som morgondaggen,
    växlar som nedan och ny.

Sub luna bibo.
    Mörkt är mitt öl, 
svartmältat korn dess kärna,
    skummet som månglittermjöl. 
Tankar och löjen
    sväva kring kannans rund, 
sväva som läderlappar,
    sväva som guldlöv i lund.

Sub luna canto.
    Mörk är min sång, 
suckar som vågor i vassen,
    rullar som bränningens gång, 
reser sig trotsig,
    sjunker tillbaka tung, 
ebbar sin tid och flödar,
    gammal och kvalfullt ung.

Sub luna vivo.
    Mörkt är mitt liv, 
ringa och vanligt i öden,
    sorger och tidsfördriv. 
Gärna jag delar
    tingens förgängliga lott, 
lycklig att lida och njuta
    jordelivets fulla mått.

Sub luna morior.
    Mörk är min grav. 
Giv mig åt namnlös torva
    eller åt vind och hav: 
vilan i mullen,
    eller ett skärat stoft, 
fladdrande som min längtan
    fladdrat mot månklara loft.


THẾ GIỚI VI MÔ

Tôi là đất, mát mẻ và chậm chạp
Dù trẻ trung nhưng mập mạp và cùn
Ánh sáng mùa thu chiếu giữa cõi lòng
Chiếc lá vàng cất lên lời “vĩnh biệt”.

Tôi là nước, giá băng và ẩm ướt
Vẻ rình rang như nước mắt mùa đông
Niềm vui mạnh mẽ nhưng cũng vội vàng
Trên những bàn có rượu và có thịt.

Tôi là không khí, nhẹ nhàng trong suốt
Mặc áo quần tươi đẹp của mùa xuân
Một năm tươi vui cùng với màu xanh
Rồi lớn lên, dù đổi thay thời tiết.

Tôi là lửa, cháy lên và khô khát
Như bầu trời dưới ánh nắng mặt trời
Và thấy ngạc nhiên vì một điều này:
Ánh mặt trời không thể nào đốt hết.

Mikrokosmos

Jag är av jorden, jag är sval och tung,
trögvulen, gammalstämd fast ganska ung.
Det står ett gulnat höstträd i min själ,
dess alla grenar susa som farväl. 

Jag är av vattnet, jag är kall och våt,
min stela flegma är som frusen gråt.
Min vinterglädje bullrar stark men bråd,
vid fulla bord med vin och villebråd.

Jag är av luften, jag är ljus och blid,
jag går som i beständig lådingstid.
Vad långa år försummat och försönt
står upp vid vädrens lekar friskt och grönt.

Jag är av elden, jag är torr och het
av sommarsol som ingen nedgång vet.
Väl må jag undra att hon ej förbränt
mig själv med alla mina element.


BÀI CA SAU MÙA THU HOẠCH

Fridolin* đang nhảy múa ở đây
Trên đồng ruộng này có bình rượu ngọt
Có nước trái cây ép và có mùi lúa mạch
Có giai điệu ngọt ngào của đồng ruộng mê say. 
Chàng giữ chặt viền áo trên cánh tay
Nhảy bên cô gái có đôi mắt hờ khép
Nàng đỏ mặt, nghiêng người rồi ép sát 
Vào ngực chàng như người thuốc phiện say. 

Fridolin đang nhảy múa ở đây
Chàng say sưa nhớ về bao ký ức
Xưa ông nội, cha mình cũng từng nhảy nhót
Dưới tiếng vĩ cầm buồn – giờ đến lượt con trai.
Nhưng trong đêm nay họ đã ngủ yên rồi
Bàn tay xưa kéo đàn giờ đã không còn nữa
Cuộc sống và thời gian – chỉ tiếng xào xạc lá
Nơi có tiếng thở dài và tiếng động vui thôi.

Nhưng mà Fridolin đang nhảy ở nơi này!
Con cháu của các người mạnh mẽ và uyển chuyển
Với những người nông dân khác chàng trò chuyện
Không chỉ tiếng của mình, mà xen cả tiếng Latinh.
Lưỡi hái của chàng gặt trên đồng đất của cha ông
Chàng cũng vui mừng khi đổ lúa đầy kho đựng lúa
Khi nâng thúng lúa lên, chàng đã đùa rất vui vẻ
Với cô gái nông dân mặt ửng đỏ giống chị Hằng. 
_________________
*Fridolin - khái quát hóa hình ảnh của một người nông dân, nhân vật trong nhiều bài thơ của Karlfeldt.

Sång efter skördeanden

Här dansar Fridolin,
han är full av det söta vin,
av sin vetåkers frukt, sina bärmarkers saft,
av den vinande valsmelodin.
Se, med livrockens väldiga skört på sin arm
hur han dansar var flicka på balen varm,
tills hon lutar -- lik vallmon på slokande skaft --
så lycksaligen matt mot hans barm.

Här dansar Fridolin,
han är full av minnenas vin.
Här hugsvalades far och farfar en gång
av den surrande bondviolin.
Men nu soven I, gamle, i högtidens natt,
och den hand, som gned strängarna då, är nu matt,
och ert liv samt er tid är en susande sång,
som har toner av sucksamt och glatt.

Men här dansar Fridolin!
Sen er son, han är stark, han är fin,
och han talar med bönder på böndernas sätt
men med lärde män på latin.
Och hans lie går skarp i er nyodlings gull,
och han fröjdas som I, när hans loge står full,
och han lyfter sin mö som en man av er ätt
högt mot höstmånens röda kastrull.


ĐẠI PHONG CẦM MÙA ĐÔNG

Thánh đường của người thấp và tối tăm
Trong ngày Lễ Các Thánh!
Bài thánh ca mùa hè ngừng lặng
Giữa tháp chuông.
Bầu trời đen xé tấm áo choàng
Và rừng thưa ra từng mảnh
Thánh lễ trong lời đêm vang vọng:
Tất cả đều cát bụi, phù vân. 

Nhưng rồi bình minh đã trùm màu xanh
Lên mặt đất mênh mông
Một thế giới vững bền màu trắng
Từ cát bụi, phù vân.
Băng giá buổi tối xây những mái vòm
Với cả dãy ống bạc ròng lấp lánh
Thánh đường dựng lên theo ý mùa đông
Từ phù vân, bụi bặm. 

Và bây giờ những chiếc lá lặng ngừng
Đồng cỏ bây giờ trở nên im lặng
Hoa cỏ từ lâu không còn lên tiếng
Và cây dẻ gai cũng đã héo hon.
Nhưng thông trên đồi và trong thung lũng
Vẫn vi vu hòa nhạc đại phong cầm
Đấy là Thánh Cecilia* thử giọng
Bằng những cơn bão tuyết của Giáng sinh.

Bãi cỏ bên thánh đường
Hôm nay phủ đầy hoa huệ trắng
Tiếng của kèn đồng vang vọng
Ôi, thiếu nữ hãy ngân lên
Giọng nam trầm trang trọng hãy thêm
Giờ ông vua đi lên sân thượng
Đầy run rẩy và tuyết đang rơi xuống
Từ hành lang thiên đường. 

Thần Aeolus** luôn chuẩn bị sẵn sàng
Kéo những chiếc ống bằng da thổi gió
Và chiếc hòm đựng gió cho ngày lễ
Chỉ chờ có dịp mở toang. 
Thế rồi dịp năm mới với mảnh trăng non
Phương bắc như chiếc sừng chì nặng trĩu
Theo bước chân những người Đạo sĩ
Thổi tù và của những kẻ chăn chiên. 

Hỡi đại phong cầm, ta đến thánh đường
Của người hết lần này lượt khác
Ta là người đang tìm học cách
Nghe theo tiếng của phong cầm
Học cách chọn chiều rộng mênh mông
Sự lặng ngừng và tiếng ngân đầy ắp
Đi qua mùa đông đến ngày Sa-bát***
Để tìm ra sự ngơi nghỉ cho mình. 

Trên dàn đồng ca của bóng tối phương đông
Cháy lên từng ngọn nến
Dải ngân hà như màn sương nóng bỏng
Thổi căng những cánh buồm.
Khi còn chưa ló dạng ánh bình minh
Như hơi thở của sao – nghe rõ ràng tiếng động
Kỳ diệu và trong suốt như là kính
Vang lên ở xung quanh. 

Đêm như trong thuở đa thần giáo xa xăm
Bao trùm trên mặt đất
Và chiếc hòm đựng gió mở toang
Những ngọn gió ngang tàng, gào thét
Như những cây sồi già lung lay rồi đổ gục
Như tạp âm của bão tuyết quay vòng
Như hợp âm với hợp âm
Vang lên trái ngược. 

Tôi lắng nghe trong buổi chiều tím ngát
Giữa băng giá rừng dương
Tiếng của đàn vĩ cầm réo rắt
Làm cho bóng tối lan tràn
Và tiếng bài ca Thánh lễ ngân vang
Và giọng của cây liễu vươn mình lấy sức
Và tôi nghe ra tiếng cây đàn hạc
Trong rượu của bình minh. 

Trên tuyết cứng, với bình minh hồng
Mẹ Maria đi đến
Và mẹ đem thu dọn
Váy áo với màu hoa rừng.
Và mẹ nói: “Hãy rời phong cầm
Giờ là lúc nghỉ ngơi lấy sức.
Còn dàn đồng ca sặc sỡ, đầy màu sắc
Hãy gửi về xứ của mẹ cho nhanh”. 
__________

* Cecilia (Xi-xi-li-a) – nữ thánh đồng trinh và tử vì đạo trong thế kỷ III. Giáo hội Công giáo từ thế kỷ XVI coi bà là vị Thánh quan thầy của các nhạc sĩ sáng tác nhạc.
** Aeolus – theo Homer (trong tác phẩm Odýsseia), là vị thần cai quản gió, cha của 6 con trai và 6 con gái làm nên 6 cặp vợ chồng sống hạnh phúc trong cung điện của cha mình. 
*** Ngày Sa-bát (sabbath) – ngày thứ bảy theo đạo Do thái, ngày chủ nhật theo đạo Công giáo, là ngày nghỉ ngơi và thờ phụng Chúa.

Vinterorgel

Ditt tempel är mörkt och lågt är dess valv,

Allhelgonadag!
Där slocknar sommarens hymn som ett skalv
av klämtande slag.
Sin mantel river den svarta sky,
och lundarnas bleknade trasor fly,
och natten mässar om allt som är dött,
allt hö, allt kött.

Det dagas ånyo, det klarnar så vitt,

det blånar så vasst.
Det växer en värld ur förgängelsens mitt,
en vit och fast.
I frostiga kvällar skönjs en arkad
med pipor av silver i glittrande rad
nu reser vintern sitt orgelhus
ur mörker och grus.

Nu höves ej lövens lösa lek,

ej susande äng.
För svag är den saviga bågen, för vek
är blomstersträng.
Men furan på höjd och granen i dal
de ljuda alltjämt som en sträv principal:
Cecilia stämmer sitt instrument
till Guds advent.

Nu ligger det stora tempeltun

som en liljevret.
Drag an registren, drag dov bordun,
drag gäll trumpet.
Stäm upp för din konung, du stämmornas mö!
Han kommer på gången, den flingor beströ,
och stilla ekar ett svävande svall
från himmelens hall.

Tungt trampar Eol, alltid beredd,

sin flåsande bälg
och håller väderkistan försedd
från helg till helg.
Där väntar nordan på nyårsny
att stöta i smattrande horn av bly
och östan att följa med herdesång
de vises gång.

Du höga orgverk, jag är en man

i din menighet
och samlar din mångfald, så gott jag kan,
till enighet.
Nu lär min ande din egen ton,
den fulla klangen, den djupa ron,
att jag må gå som på sabbatsfärd
i min vintervärld.

Från tidig skymning, då lamporna tänts

i östligt kor
och vintergatans valvsegel spänts
av flammande flor,
det susar ibland intill gryningens väkt,
som stjärnornas lugna andedräkt,
en enda ton, en glasigt klar
och underbar.

En fimbulnatt som i hedenhös

med bävan jag hör,
när svällaren öppnas och blästern går lös
ur flöjtverk och rör.
Det skallar basun som i håligt trä
av knäckta ekar som sjunka på knä,
och stämmor dansa i vild mixtur
som rykande ur.

Jag vill gå ut en violbrun kväll

bland isig björk
och höra den strykande violoncell
som sväller mörk;
och jag vill höra i fastlagskoral
det växande visslet av salcional,
den första vårliga eolin
i morgonens vin -

till dess Maria går skär av sol

på skarens glans
och fäster kring skogens mörka kjol
en hasselfrans
och säger: "Syster, det töar från kvist.
Nu vila, du vita organist!
Av musikanter ett brokigt band
styr upp mot vårt land."

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2020

Thơ tình Charles Baudelaire

TRÍCH TỪ
Nỗi buồn Paris – Những bài thơ văn xuôi nhỏ 
(Le Spleen de Paris – Petits Poèmes en prose)


XVII. Một nửa thế giới trong mái tóc

Hãy cho phép anh hít vào thật lâu mùi hương của mái tóc em, dìm gương mặt của mình trong trong mái tóc, giống như kẻ lữ hành trong cơn khát đang cúi xuống mạch nước nguồn và vẫy vẫy chúng như một chiếc khăn đượm mùi hương, để cho kỷ niệm rơi vãi lung tung ra giữa bầu không khí.

Giá mà em biết ra tất cả những gì anh đang nhìn thấy! tất cả những gì anh cảm thấy! tất cả những gì anh nghe ra trong mái tóc của em! Linh hồn của anh lang thang giữa những mùi hương, giống như linh hồn của những người khác lang thang trong tiếng nhạc.

Mái tóc của em gợi ra những điều mơ ước mà trong đó có những cánh buồm, những cột buồm và biển cả mênh mông, nơi có những cơn gió mùa mang anh về những miền đất kỳ diệu, nơi không gian xanh hơn và sâu hơn, nơi không khí thơm ngát mùi hương của trái cây, của lá và của da thịt con người. 

Trong đại dương của mái tóc em, anh mơ màng thấy một bến cảng xa xôi tràn ngập những bài hát u hoài, những chàng trai mạnh mẽ đến từ mọi quốc gia và những con tàu đủ kiểu, những đường nét muôn hình muôn vẻ dưới bầu trời rộng mở, nơi mùa hè muôn thuở.  

Khi vuốt ve mái tóc của em, anh lại nhớ về vẻ mệt mỏi dài lâu khi nằm trên đi văng trong buồng ngủ của một con tàu đẹp, vẻ dập dờn vì sóng nước giữa những chậu hoa, giữa những bình nước mát.  

Trong vẻ oi nồng của mái tóc em, anh hít thở mùi thuốc lá trộn với thuốc phiện và đường; trong màn đêm của mái tóc em anh thấy ánh lên sự vô tận của màu thiên thanh miền nhiệt đới; còn trên những bờ mềm mại của mái tóc em, anh đắm chìm trong mùi hương hỗn hợp của nhựa thông, của dầu dừa và của xạ hương. 

Hãy để anh cắn thật lâu mái tóc đen dài và nặng của em. Khi anh gặm những sợi tóc của em, dẻo dai và ngang bướng, anh ngỡ rằng mình đang ăn kỷ niệm. 

Un hémisphère dans une chevelure

Laisse-moi respirer longtemps, longtemps, l’odeur de tes cheveux, y plonger tout mon visage, comme un homme altéré dans l’eau d’une source, et les agiter avec ma main comme un mouchoir odorant, pour secouer des souvenirs dans l’air.

Si tu pouvais savoir tout ce que je vois ! tout ce que je sens ! tout ce que j’entends dans tes cheveux ! Mon âme voyage sur le parfum comme l’âme des autres hommes sur la musique.

Tes cheveux contiennent tout un rêve, plein de voilures et de mâtures ; ils contiennent de grandes mers dont les moussons me portent vers de charmants climats, où l’espace est plus bleu et plus profond, où l’atmosphère est parfumée par les fruits, par les feuilles et par la peau humaine.

Dans l’océan de ta chevelure, j’entrevois un port fourmillant de chants mélancoliques, d’hommes vigoureux de toutes nations et de navires de toutes formes découpant leurs architectures fines et compliquées sur un ciel immense où se prélasse l’éternelle chaleur.
Dans les caresses de ta chevelure, je retrouve les langueurs des longues heures passées sur un divan, dans la chambre d’un beau navire, bercées par le roulis imperceptible du port, entre les pots de fleurs et les gargoulettes rafraîchissantes.

Dans l’ardent foyer de ta chevelure, je respire l’odeur du tabac mêlé à l’opium et au sucre ; dans la nuit de ta chevelure, je vois resplendir l’infini de l’azur tropical ; sur les rivages duvetés de ta chevelure je m’enivre des odeurs combinées du goudron, du musc et de l’huile de coco.

Laisse-moi mordre longtemps tes tresses lourdes et noires. Quand je mordille tes cheveux élastiques et rebelles, il me semble que je mange des souvenirs.


XXXIII. Hãy say!

Luôn luôn cần phải say. Trong điều này là tất cả: đó là nhiệm vụ duy nhất. Để không cảm thấy gánh nặng khủng khiếp của Thời gian đang đè nặng trên vai bạn, làm bạn cúi gập xuống đất, cần phải không ngừng say.

Nhưng say bằng gì? Say bằng rượu vang, bằng thơ ca hay là sự thật – bằng cái gì cũng được. Nhưng hãy say!

Và nếu đôi khi, trên bậc thềm của một cung điện, trên bãi cỏ xanh bên bờ mương, trong sự cô đơn ảm đạm của căn phòng, khi thức dậy bạn cảm thấy rằng cơn say đã dịu đi hoặc đã không còn nữa thì bạn hãy đi hỏi gió, hỏi sóng, hỏi những con chim, hỏi những vì sao, hỏi chiếc đồng hồ, hỏi tất cả những gì đang chạy, hỏi tất cả những gì đang rên rỉ, hỏi tất cả những gì đang chuyển động, tất cả những gì đang hát, tất cả những gì đang nói – và hãy hỏi mấy giờ rồi; và gió, sóng, những con chim, những vì sao và đồng hồ sẽ trả lời cho bạn: “Đây là lúc say! Để không trở thành nô lệ của Thời gian, hãy say, hãy say sưa không ngừng! Say bằng rượu vang, bằng thơ ca hay bằng sự thật – bằng cái gì cũng được”. 

Enivrez-vous

Il faut être toujours ivre. Tout est là : c’est l’unique question. Pour ne pas sentir l’horrible fardeau du Temps qui brise vos épaules et vous penche vers la terre, il faut vous enivrer sans trêve.

Mais de quoi ? De vin, de poésie ou de vertu, à votre guise. Mais enivrez-vous.

Et si quelquefois, sur les marches d’un palais, sur l’herbe verte d’un fossé, dans la solitude morne de votre chambre, vous vous réveillez, l’ivresse déjà diminuée ou disparue, demandez au vent, à la vague, à l’étoile, à l’oiseau, à l’horloge, à tout ce qui fuit, à tout ce qui gémit, à tout ce qui roule, à tout ce qui chante, à tout ce qui parle, demandez quelle heure il est ; et le vent, la vague, l’étoile, l’oiseau, l’horloge, vous répondront : « Il est l’heure de s’enivrer ! Pour n’être pas les esclaves martyrisés du Temps, enivrez-vous ; enivrez-vous sans cesse ! De vin, de poésie ou de vertu, à votre guise. »


XXXVI. Khát khao thể hiện

Có thể là một người bất hạnh, nhưng là một nghệ sĩ hạnh phúc với khao khát của mình!

Tôi khát khao thể hiện một nàng mà hiếm khi xuất hiện trước mắt tôi và ra đi nhanh chóng, tựa hồ như một quang cảnh đẹp, thấp thoáng phút chốc trước mắt kẻ du hành rồi biến vào đêm. Đã bao nhiêu thời gian, kể từ ngày nàng biến mất!

Nàng xinh đẹp, và trên cả tuyệt vời: nàng gây sửng sốt. Màu sắc của nàng là màu đen, đấy là tất cả những gì truyền cảm hứng cho nàng, thể hiện chiều sâu và vẻ u ám của đêm. Đôi mắt của nàng là hai hang động tối tăm, nơi xuất phát những điều bí ẩn mơ hồ thấp thoáng, ánh nhìn của nàng giống như tia chớp đang lấp lánh; đấy là sự bùng phát của ánh sáng giữa bóng đêm.

Giá mà tôi được so sánh nàng với một mặt trời đen, giá mà tôi có thể hình dung ra một tinh cầu đen đang rót ra ánh sáng và niềm hạnh phúc. Nhưng có lẽ nàng gợi ra ý nghĩ về mặt trăng, mà không nghi ngờ, đã trao cho nàng quyền lực định mệnh của mình; nhưng không phải mặt trăng tái nhợt điền viên giống như một cô dâu lạnh lùng, mà là mặt trăng nham hiểm và say mê mẩn đang nhìn từ trong sâu thẳm của đêm giông xuyên qua những đám mây đang chạy nhanh; không phải mặt trăng tĩnh lặng và dịu êm đang canh giấc nồng cho những người ngoạn đạo, mà là mặt trăng bị đuổi từ trời xanh, bị đánh bại và lại nổi khùng, cùng với nó là những phù thủy Thessalian đang nhảy múa trên bãi cỏ vì sợ hãi đang dần chết.

Trên vầng trán thấp của nàng có một sự kiên gan và khát khao nô dịch. Nhưng trên gương mặt không yên này, nơi hai lỗ mũi đung đưa thở ra một mùi hương lạ lùng không thể tả, cái miệng của nàng cười to hết cỡ, màu trắng và màu đỏ của cái miệng này cho phép nghĩ về một bông hoa đẹp lạ kỳ nở trong đất núi lửa. 

Có những người phụ nữ gợi ra niềm khát khao chinh phục họ và thưởng thức họ; nhưng có để làm gì, tôi chỉ muốn được chết từ từ dưới ánh mắt của nàng say đắm.

Le Désir de peindre

Malheureux peut-être l’homme, mais heureux l’artiste que le désir déchire !

Je brûle de peindre celle qui m’est apparue si rarement et qui a fui si vite, comme une belle chose regrettable derrière le voyageur emporté dans la nuit. Comme il y a longtemps déjà qu’elle a disparu !

Elle est belle, et plus que belle ; elle est surprenante. En elle le noir abonde : et tout ce qu’elle inspire est nocturne et profond. Ses yeux sont deux antres où scintille vaguement le mystère, et son regard illumine comme l’éclair : c’est une explosion dans les ténèbres.

Je la comparerais à un soleil noir, si l’on pouvait concevoir un astre noir versant la lumière et le bonheur. Mais elle fait plus volontiers penser à la lune, qui sans doute l’a marquée de sa redoutable influence ; non pas la lune blanche des idylles, qui ressemble à une froide mariée, mais la lune sinistre et enivrante, suspendue au fond d’une nuit orageuse et bousculée par les nuées qui courent ; non pas la lune paisible et discrète visitant le sommeil des hommes purs, mais la lune arrachée du ciel, vaincue et révoltée, que les Sorcières thessaliennes contraignent durement à danser sur l’herbe terrifiée !

Dans son petit front habitent la volonté tenace et l’amour de la proie. Cependant, au bas de ce visage inquiétant, où des narines mobiles aspirent l’inconnu et l’impossible, éclate, avec une grâce inexprimable, le rire d’une grande bouche, rouge et blanche, et délicieuse, qui fait rêver au miracle d’une superbe fleur éclose dans un terrain volcanique.

Il y a des femmes qui inspirent l’envie de les vaincre et de jouir d’elles ; mais celle-ci donne le désir de mourir lentement sous son regard.


XXXVIII. Đâu là người thật?

Tôi từng quen biết với một cô gái có tên là Benedicta, người cứ ngỡ như là sự thể hiện của lý tưởng, người có đôi mắt khiêu gợi lòng khát khao hướng tới sự vĩ đại, vẻ đẹp, sự nổi tiếng và tất cả những gì buộc người ta tin vào sự bất tử.

Nhưng cô gái kỳ diệu này là quá đẹp, để mà sống được lâu; và nàng đã chết chỉ mấy ngày sau khi tôi làm quen với nàng, và tôi đã chôn nàng trong một ngày, khi mà mùa xuân vẫy lư hương của mình vào nghĩa trang. Tôi chôn nàng vào đất trong chiếc quan tài bằng gỗ thơm và không thể mục, giống như cái rương của người Ấn Độ.

Và khi đôi mắt của tôi vẫn còn chăm chú nhìn vào nơi mà tôi chôn kho báu của mình, thì bỗng nhiên tôi nhìn thấy một người phụ nữ nhỏ nhắn, rất giống với người vừa qua đời; người này dẫm đôi chân trên đất còn tươi, với một vẻ cuồng loạn và khó hiểu, vừa cười to vừa nói: “Đây là tôi, là Benedicta chân chính! Đây là tôi, kẻ vô lại nổi tiếng! Và để trừng phạt sự điên rồ của ngươi, sự mù quáng của ngươi, ngươi sẽ yêu tôi như là tôi vốn có!”

Nhưng tôi đã giận dữ trả lời: “Không! Không! Không thể!” Và để làm tăng thêm sự từ chối của mình, tôi dùng chân đạp một cách điên cuồng vào đất, làm cho người vừa chết biến ngay vào ngôi mộ đất còn tươi rói, và giống như một con sói bị sa vào bẫy, tôi bị trói, có thể là mãi mãi, vào ngôi mộ của Lý tưởng!

Laquelle est la vraie?

J’ai connu une certaine Bénédicta, qui remplissait l’atmosphère d’idéal, et dont les yeux répandaient le désir de la grandeur, de la beauté, de la gloire et de tout ce qui fait croire à l’immortalité.

Mais cette fille miraculeuse était trop belle pour vivre longtemps ; aussi est-elle morte quelques jours après que j’eus fait sa connaissance, et c’est moi-même qui l’ai enterrée, un jour que le printemps agitait son encensoir jusque dans les cimetières. C’est moi qui l’ai enterrée, bien close dans une bière d’un bois parfumé et incorruptible comme les coffres de l’Inde.

Et comme mes yeux restaient fichés sur le lieu où était enfoui mon trésor, je vis subitement une petite personne qui ressemblait singulièrement à la défunte, et qui, piétinant sur la terre fraîche avec une violence hystérique et bizarre, disait en éclatant de rire : « C’est moi, la vraie Bénédicta ! C’est moi, une fameuse canaille ! Et pour la punition de ta folie et de ton aveuglement, tu m’aimeras telle que je suis ! »

Mais moi, furieux, j’ai répondu : « Non ! non ! non ! » Et pour mieux accentuer mon refus, j’ai frappé si violemment la terre du pied que ma jambe s’est enfoncée jusqu’au genou dans la sépulture récente, et que, comme un loup pris au piége, je reste attaché, pour toujours peut-être, à la fosse de l’idéal.


Thơ tình Joachim du Bellay


Sonnet V – 5 

Những người đang yêu thích hát về tình
Người háo danh đi tìm sự vinh quang
Quan cận thần thì chỉ ưa nịnh hót
Để làm tăng thêm tài sản cho mình.  

Nhà khoa học lo miệt mài ngày đêm
Nhà linh mục rao giảng về đạo đức
Người mê rượu chè chỉ thích nhậu nhẹt
Người ước mơ thích viết truyện ngụ ngôn.

Người xét nét ưa bới lông tìm vết
Để bắt bẻ và vu khống kẻ thù
Người dũng cảm thích xông vào trận mạc.

Mọi công việc nhà thơ làm được hết
Trên đời này bất hạnh chỉ mình ta
Chỉ viết lách là điều ta làm được.

Sonnet V – 5 

Ceux qui sont amoureux, leurs amours chanteront,
Ceux qui aiment l'honneur, chanteront de la gloire,
Ceux qui sont près du roi, publieront sa victoire,
Ceux qui sont courtisans, leurs faveurs vanteront,

Ceux qui aiment les arts, les sciences diront,
Ceux qui sont vertueux, pour tels se feront croire,
Ceux qui aiment le vin, deviseront de boire,
Ceux qui sont de loisir, de fables écriront,

Ceux qui sont médisants, se plairont à médire,
Ceux qui sont moins fâcheux, diront des mots pour rire,
Ceux qui sont plus vaillants, vanteront leur valeur,

Ceux qui se plaisent trop, chanteront leur louange,
Ceux qui veulent flatter, feront d'un diable un ange :
Moi, qui suis malheureux, je plaindrai mon malheur.


XXXI – 31 

Phước cho ai như Ulysse từng du hành
Hay kẻ đoạt bộ lông cừu thần thánh 
Rồi trở về sống cuộc đời trọn vẹn 
Ở quê hương mình, giữa những người thân. 

Còn tôi bao giờ mới thấy ngôi làng 
Khói bếp bay lên trong chiều bảng lảng
Bao giờ thấy lại ngôi nhà thấp vắng
Thấy vùng đất tôi vẫn gọi quê hương?

Tôi yêu quí ngôi nhà của tổ tiên
Hơn cung điện, hơn lâu đài La Mã
Yêu gạch hồng hơn đá quý hoa văn 

Dù sông Loire không phải Tybre Latin 
Dù núi Liré không phải núi Palatin
Nhưng lòng tôi mến thương hơn tất cả.

XXXI – 31 

Heureux qui, comme Ulysse, a fait un beau voyage,
Ou comme cestuy-là qui conquit la toison,
Et puis est retourné, plein d’usage et raison,
Vivre entre ses parents le reste de son âge !

Quand reverrai-je, hélas, de mon petit village
Fumer la cheminée, et en quelle saison
Reverrai-je le clos de ma pauvre maison,
Qui m’est une province, et beaucoup davantage ?

Plus me plaît le séjour qu’ont bâti mes aïeux,
Que des palais Romains le front audacieux,
Plus que le marbre dur me plaît l’ardoise fine :

Plus mon Loir gaulois, que le Tibre latin,
Plus mon petit Liré, que le mont Palatin,
Et plus que l’air marin la doulceur angevine.


XLIV – 44 

Ông thầy thuốc chữa cơn sốt run
Bằng cách đắp lên người khăn ấm
Còn cơn sốt tình yêu khô và nóng
Chỉ dịu đi khi thỏ thẻ với tình.

Bếp lửa cháy em thổi nước vào trong
Thì ngọn lửa càng bốc lên vùn vụt
Ngọn lửa kia nếu em muốn dập
Cần phải đem dội nước bằng thùng.

Trong tình yêu bằng cách ấy được chăng?
Anh đã từng thử bằng cách như vậy
Tại vì sao không được hở Madame.

Càng cố sức dập ngọn lửa tình
Thì anh càng yêu em say đắm
Và không muốn ai dập lửa giùm anh!

XLIV – 44 

Au goust de l'eau la fievre se rappaise,
Puis s'evertue au cours, qui sembloit lent:
Amour aussi m'est humble, et violent,
Quand le coral de voz levres je baise.

L'eau goute à goute anime la fournaize
D'un feu couvert le plus etincelant:
L'ardent desir, que mon coeur va celant,
Par voz baisers se faict plus chault que braize.

D'un grand traict d'eau, qui freschement distile,
Souvent la fievre est etainte, Madame.
L'onde à grand flot rent la flamme inutile.

Mais, ô baisers, delices de mon ame!
Vous ne pouriez, et fussiez vous cent mile,
Guerir ma fievre, ou eteindre ma flamme.



XCIV – 94  

Phước cho ai tung hoành nơi trận mạc
Mà không bị bắt, cũng chẳng bị thương
Phước cho ai không phản bội quê hương
Dù vẫn sống cuộc đời nơi đất khách. 

Phước cho ai không sợ lời ghen ghét
Chỉ nịnh Giáo hoàng và sống vô tư
Không giết chóc mà có quyền thưởng thức
Mũ đỏ hay là chìa khóa thánh Pierre!

Phước cho ai giữa biển không gặp gì
Phước cho ai trong nhà luôn có khách
Phước cho ai cả đời không làm ác 

Phước cho ai kho báu luôn giữ được
Vợ thủy chung, nhưng còn hạnh phúc hơn
Ai không hói đầu, sống ba năm ở thành Rôm.

XCIV – 94  

Heureux celui qui peut longtemps suivre la guerre
Sans mort, ou sans blessure, ou sans longue prison !
Heureux qui longuement vit hors de sa maison
Sans dépendre son bien ou sans vendre sa terre !

Heureux qui peut en cour quelque faveur acquerre
Sans crainte de l'envie ou de quelque traïson !
Heureux qui peut longtemps sans danger de poison
Jouir d'un chapeau rouge ou des clefs de saint Pierre !

Heureux qui sans péril peut la mer fréquenter !
Heureux qui sans procès le palais peut hanter !
Heureux qui peut sans mal vivre l'âge d'un homme !

Heureux qui sans souci peut garder son trésor,
Sa femme sans soupçon, et plus heureux encor
Qui a pu sans peler vivre trois ans à Rome!



XCVII – 97 

Trong nắng hè tuyệt đẹp hoa hồng
Khi hoa trắng trong như tuyết
Và nhẹ nhàng toả ra hơi mát
Trên cành, từ vết cắt màu xanh.

Màu trắng này tất cả đều thở bằng
Tất cả cúi đầu trước hoa cảm tạ
Khẽ chạm vào cành hoa con thú sợ
Thế là con thú chạy vòng quanh.

Nhưng người ta đem bẻ cành hoa
Thì hoa buồn bã, não nề
Rồi hoa trở về cát bụi…

Bông hoa của tôi người ta đoạt lấy
Còn tôi bay trong mộng, trong mơ
Chốn xa xôi, rồi kết thúc trong thơ. 

XCVII – 97 

Qui a peu voir la matinale rose
D'une liqueur celeste emmïellée,
Quand sa rougeur de blanc entremeslée
Sur le naïf de sa branche repose:

Il aura veu incliner toute chose
A sa faveur: le pié ne l'a foulée,
La main encor' ne l'a point violée,
Et le troupeau aprocher d'elle n'ose.

Mais si elle est de sa tige arrachée,
De son beau teint la frescheur dessechée
Pert la faveur des hommes et des Dieux.

Helas! on veult la mienne devorer:
Et je ne puis, que de loing, l'adorer
Par humbles vers (sans fruit) ingenieux.



Thơ tình Gérard de Nerval


DELFICA* 

Dafné**, em còn nhớ câu chuyện cổ thần tiên
Bên bụi ô-liu, dưới gốc ngô đồng
Bên cây liễu rủ, bên vòng hoa trắng 
Bài hát tình yêu nghe biết bao lần?... 

Em đã nhận ra nơi có ngôi đền
Hành lang rộng, trong giây phút thần tiên
Và nhìn thấy con rồng trong hang rộng
Làm khiếp kinh biết bao ánh mắt nhìn… 

Họ sẽ quay về – thần thánh thiêng liêng! 
Lời tiên tri còn mãi giữa trần gian 
Vẻ lo lắng vẫn bao trùm mặt đất… 

Và Sibylae với khuôn mặt Latin 
Ngủ mơ màng dưới vòm Constantin
Mà chẳng quấy rầy những vòm nghiêm khắc. 
_____________________ _____________
*Delphica (tiếng Latin) – thuộc về địa điểm khảo cổ, là một thành phố cổ ở Hy Lạp, vùng đất thiêng thời cổ đại, hiện là một thị trấn thuộc vùng Phocis, miền trung Hy Lạp. 
* Δάφνη (tiếng Hy lạp), Daphne (tiếng Anh), – nhân vật nữ trong thần thoại Hy Lạp, tình yêu đơn phương của thần Apollo, người đã biến thành cây nguyệt quế để chạy trốn khỏi tình yêu này. 

Delfica

La connais-tu, Dafné, cette ancienne romance
Au pied du sycomore, ou sous les lauriers blancs,
Sous l'olivier, le myrte, ou les saules tremblants
Cette chanson d'amour qui toujours recommence ? ...

Reconnais-tu le TEMPLE au péristyle immense,
Et les citrons amers où s'imprimaient tes dents,
Et la grotte, fatale aux hôtes imprudents,
Où du dragon vaincu dort l'antique semence ? ..

Ils reviendront, ces Dieux que tu pleures toujours !
Le temps va ramener l'ordre des anciens jours ;
La terre a tressailli d'un souffle prophétique ...

Cependant la sibylle au visage latin
Est endormie encor sous l'arc de Constantin
- Et rien n'a dérangé le sévère portique.


CUỒNG TƯỞNG

Có giai điệu mà tôi đây sẵn sàng
Đem Rossini, Mozart, Weber ra đánh đổi
Giai điệu cổ buồn thương và tăm tối
Không hiểu sao lại quyến rũ vô cùng.

Mỗi lần nghe thấy trẻ lại trong hồn
Dường như cả hai trăm năm có lẻ
Thời vua Louis mười ba, và tôi nhớ
Cánh đồng xanh, hoàng hôn rực ánh vàng.

Tiếp theo, lâu đài gạch, đá ốp tường 
Những ô kính phong sương màu đỏ sẫm
Con sông nhỏ chảy giữa công viên rộng
Giữa bao hoa, nước mát tắm bàn chân.

Từ cửa sổ cao có bà mắt huyền
Mái tóc đen, bà mặc quần áo cổ
Hình như kiếp trước đã quen đâu đó
Từng gặp rồi… giờ bỗng nhớ ra chăng. 

Fantaisie

Il est un air pour qui je donnerais
Tout Rossini, tout Mozart et tout Weber,
Un air très vieux, languissant et funèbre,
Qui pour moi seul a des charmes secrets.

Or, chaque fois que je viens à l’entendre,
De deux cents ans mon âme rajeunit :
C’est sous Louis treize ; et je crois voir s’étendre
Un coteau vert, que le couchant jaunit,

Puis un château de brique à coins de pierre,
Aux vitraux teints de rougeâtres couleurs,
Ceint de grands parcs, avec une rivière
Baignant ses pieds, qui coule entre des fleurs ;

Puis une dame, à sa haute fenêtre,
Blonde aux yeux noirs, en ses habits anciens,
Que, dans une autre existence peut-être,
J’ai déjà vue… – et dont je me souviens !


THƠ MỘ CHÍ

Ông sống hết đời mình, vui như một con chim
Đã buồn bã, yêu thương, đã từng vô tư lự
Đã như mọi người, đã không như ai cả
Thế rồi thần chết về gõ cửa một hôm.

Ông cầu xin thần chết cho một chút rình rang
Để ông kịp viết cho xong một bài thơ cuối
Rồi sau đó ông nằm vào quan tài tăm tối
Đặt đôi bàn tay lên ngực lạnh, và run. 

Ông đã lười biếng kể câu chuyện mông lung
Rồi ông đã ra đi, để mực khô trong lọ
Muốn biết nhiều mà chẳng biết gì hết cả.

Và đến khi mệt mỏi với đời sống vô thường
Một buổi tối mùa đông, linh hồn ông hớn hở
Ông tự hỏi: “Ta đến đây để làm gì cơ chứ?” 

Épitaphe

Il a vécu tantôt gai comme un sansonnet,
Tour à tour amoureux insoucieux et tendre,
Tantôt sombre et rêveur comme un triste Clitandre.
Un jour il entendit qu'à sa porte on sonnait.

C'était la Mort ! Alors il la pria d'attendre
Qu'il eût posé le point à son dernier sonnet ;
Et puis sans s'émouvoir, il s'en alla s'étendre
Au fond du coffre froid où son corps frissonnait.

Il était paresseux, à ce que dit l'histoire,
Il laissait trop sécher l'encre dans l'écritoire.
Il voulait tout savoir mais il n'a rien connu.

Et quand vint le moment où, las de cette vie,
Un soir d'hiver, enfin l'âme lui fut ravie,
Il s'en alla disant : " Pourquoi suis-je venu ? "

Thơ tình Théophile Gautier


LỜI KHẤN CUỐI CÙNG

Tôi yêu em có biết đã bao năm
Yêu tha thiết kể từ năm mười tám
Giờ em sáng ngời còn tôi u ám 
Em – mùa xuân, còn tôi đã mùa đông. 

Một nghĩa trang bằng hoa huệ trắng ngần
Trên vầng trán đang tưng bừng đua nở
Sắp tới đây hoa kết thành từng bó
Che phủ ngôi đền của nỗi buồn thương.

Mặt trời nhạt của tôi đang xuống nhanh
Sắp tới đây sau chân trời mất hút
Phía trên ngọn đồi đau thương tang tóc
Tôi nhìn ra ngôi nhà cuối của mình. 

Nhưng giá như mà được em ban tặng
Nụ hôn muộn màng yêu dấu trên môi
Thì tôi vui và có thể nghỉ ngơi
Trong nấm mồ với con tim tĩnh lặng.

 Dernier voeu

Voilà longtemps que je vous aime :
- L’aveu remonte à dix-huit ans ! -
Vous êtes rose, je suis blême ;
J’ai les hivers, vous les printemps.

Des lilas blancs de cimetière
Prés de mes tempes ont fleuri ;
J’aurai bientôt la touffe entière
Pour ombrager mon front flétri.

Mon soleil pâli qui décline
Va disparaître à l’horizon,
Et sur la funèbre colline
Je vois ma dernière maison.

Oh ! que de votre lèvre il tombe
Sur ma lèvre un tardif baiser,
Pour que je puisse dans ma tombe,
Le coeur tranquille, reposer !


GIÁNG SINH

Bầu trời đêm trên cánh đồng tuyết trắng
Tiếng chuông đó đây xin hãy ngân lên 
Giê-su ra đời và Đức Mẹ đồng trinh
Trên đứa con gương mặt nhìn âu yếm.

Trong chuồng thú tối tăm và giá lạnh
Biết lấy gì để ủ ấm cho con
Chỉ mạng nhện treo lơ lửng trên không
Từ mái nhà đang lòng thòng rủ xuống. 

Đứa bé nằm run run trong rơm ấm
Vẻ dịu dàng – đây là Chúa Giê-su
Xung quanh có những con lừa, con bò
Hướng đứa bé thở ra làn hơi nóng. 

Trên mái nhà chỉ một màu tuyết trắng
Nhưng trên đó mở ra bầu trời xanh
Những thiên thần mặc áo quần màu trắng
Trong dàn đồng ca: “Giáng sinh! Giáng sinh!”

Noël

Le ciel est noir, la terre est blanche ;
– Cloches, carillonnez gaîment ! –
Jésus est né ; – la Vierge penche
Sur lui son visage charmant.

Pas de courtines festonnées
Pour préserver l’enfant du froid ;
Rien que les toiles d’araignées
Qui pendent des poutres du toit.

Il tremble sur la paille fraîche,
Ce cher petit enfant Jésus,
Et pour l’échauffer dans sa crèche
L’âne et le boeuf soufflent dessus.

La neige au chaume coud ses franges,
Mais sur le toit s’ouvre le ciel
Et, tout en blanc, le choeur des anges
Chante aux bergers :  » Noël ! Noël !  »


KHÓI

Nấp mình dưới hàng cây
Túp lều còng lưng xuống
Ngưỡng cửa phủ đầy rêu
Mái nghiêng, tường hư hỏng. 

Cửa sổ đều bịt kín
Nhưng như giữa trời đông
Hơi thở ấm từ miệng
Vẫn nhìn thấy rõ ràng. 

Như xoáy ốc bằng khói
Lơ lửng giữa chơi vơi –
Một linh hồn mệt mỏi
Mang tin về Chúa Trời. 

 Fumée

Là-bas, sous les arbres s’abrite
Une chaumière au dos bossu ;
Le toit penche, le mur s’effrite,
Le seuil de la porte est moussu.

La fenêtre, un volet la bouche ;
Mais du taudis, comme au temps froid
La tiède haleine d’une bouche,
La respiration se voit.

Un tire-bouchon de fumée,
Tournant son mince filet bleu,
De l’âme en ce bouge enfermée
Porte des nouvelles à Dieu.


WATTEAU*

Tôi đến Paris bằng con đường nông thôn
Dọc lối mòn trong buổi chiều tĩnh lặng
Chỉ mình tôi – không có bạn đồng hành
Chỉ cơn đau đưa bàn tay tôi nắm. 

Cánh đồng rộng mênh mông và u ám
Trong sự hài hòa cùng với trời xanh
Chẳng có màu xanh ở chốn đồng bằng
Chỉ công viên bỏ hoang từ lâu lắm. 

Tôi dò dẫm rất lâu tìm cánh cổng
Công viên này theo phong cách Watteau
Khu vườn cảnh cùng cây nhỏ cây to
Những lối đi được quét bằng vôi trắng. 

Tôi cùng với nỗi buồn và vui sướng
Khi đưa mắt nhìn, tôi hiểu điều này:
Rằng đã gần giấc mơ của đời tôi
Rằng nơi đó hạnh phúc tôi trú ẩn.
___________
*Jean - Antoine Watteau (1684 – 1721) – họa sĩ Pháp đi đầu của trường phái Rococo (hậu Baroque). 

Watteau

Devers Paris, un soir, dans la campagne,
J'allais suivant l'ornière d'un chemin,
Seul avec moi, n'ayant d'autre compagne
Que ma douleur qui me donnait la main.

L'aspect des champs était sévère et morne,
En harmonie avec l'aspect des cieux,
Rien n'était vert sur la plaine sans borne,
Hormis un parc planté d'arbres très vieux.

Je regardai bien longtemps par la grille ;
C'était un parc dans le goût de Watteau :
Ormes fluets, ifs noirs, verte charmille,
Sentiers peignés et tirés au cordeau.

Je m'en allai l'âme triste et ravie ;
En regardant, j'avais compris cela :
Que j'étais près du rêve de ma vie,
Que mon bonheur était enfermé là.