Thứ Hai, 22 tháng 6, 2020

Thơ tình Robert Graves




CUỘC CHƠI KẾT THÚC

(End of play)

Đã kết thúc cuộc chơi, và muôn thuở
Ta, mọi người vẫn thú nhận đôi khi
Hoặc nhìn vào bầu trời xanh xưa cũ
Một màu xanh như áo của Mary.

Ta ngỡ rằng đời vẫn cứ nhởn nhơ
Và thơ thẩn giữa đất trời mùa hạ
Ánh sáng chói chang, màu xanh hoa cỏ
Và lòng tin hạ cố từ trời kia.

Cứ ngỡ: gương và tiếng vọng nghìn thu
Hoà nhập với tầm nhìn và tiếng động
Tiệng gọi lòng tin không còn can đảm
Vang lên như lời than vãn: “Tôi mù!”

Sao người đời than khóc thật vu vơ
Chẳng khác gì khóc không còn răng sữa
Có những kẻ khóc nức nở và quì
Đầu gối, kêu vẻ sầu bi của Chúa.

Ta đã thôi không gian lận, dối lừa
Đã không còn nghĩ suy như ngày cũ
Trong rừng rậm hổ báo và sư tử
Vẫn rập rình chờ nhảy xổ vào ta.

Và đam mê không dối gian mời mọc
Vào điệu nhảy xưa vô tội những ai
Từ cái chạm luống cuống của bàn tay
Đến cái ôm choàng ngất ngây lồng ngực.

Nhưng tình yêu vẫn sống – như vết khắc
Dưới lưỡi rìu của đao phủ tang thương
Và xác thân bất động ở trong gương
Những kỷ niệm xưa vẫn nhìn thấy hết.


End of Play

 We have reached the end of pastime, for always,
  Ourselves and everyone, though few confess it
  Or see the sky other than, as of old,
  A foolish smiling Mary-mantle blue;

  Though life may still seem to dawdle golden
  In some June landscape among giant flowers,
  The grass to shine as cruelly green as ever,
  Faith to descend in a chariot from the sky –

  May seem only: a mirror and an echo
  Mediate henceforth with vision and sound.
  The cry of faith, no longer mettlesome,
  Sounds as a blind man’s pitiful plea of ‘blind’.

  We have at last ceased idling, which to regret
  Were as shallow as to ask our milk-teeth back;
  As many forthwith do, and on their knees
  Call lugubriously upon chaste Christ.

  We tell no lies now, at last cannot be
  The rogues we were – so evilly linked in sense
  With what we scrutinized that lion or tiger
  Could leap from every copse, strike and devour us.

  No more shall love in hypocritic pomp
  Conduct its innocents through a dance of shame,
  From timid touching of gloved fingers
  To frantic laceration of naked breasts.

  Yet love survives, the word carved on a sill
  Under antique dread of the headsman’s axe;
  It is the echoing mind, as in the mirror
  We stare on our dazed trunks at the block kneeling.

VƯƠNG QUỐC BÍ ẨN
(The secret land)

Ở mỗi một người phụ nữ hoàng gia
Có vương quốc bí ẩn, còn hiện thực
Hơn cõi trần màu xám ở quanh ta.

Giờ nửa đêm, khi ngôi nhà lặng lẽ
Nàng bỏ sách, thôi cuốn chỉ xe tơ
Rồi đi vào vương quốc bí ẩn nọ.

Nàng chau mày rồi kéo chắn song
Giữa những cây bạch dương cao lớn
Và nàng đưa ra đòi hỏi của mình.

Chạy, hoặc bay, hoặc ngồi trên ngựa phóng
(Ngựa, tất nhiên, là tự đến với nàng)
Và đi về nơi mà nàng muốn đến.

Nàng làm cho hoa cỏ phải lớn lên
Gọi hoa huệ nở hoa từ những nụ
Đưa thức ăn cho cá tự tay mình.

Trồng những đồi cây, xây những ngôi làng
Thung lũng vui nhờ những dòng suối mát
Nước lạnh đổ vào hồ đất bao quanh.

Tôi chưa bao giờ dám đi hỏi nàng
Như quyền lực mà nàng thơ có được
Hay về địa lý, về suối về sông.

Tôi không lẻn vào giữa rừng bạch dương
Và không gác chân ngôi lên trên cổng
Rồi ngó nhìn vào màn sương mơ màng.

Có phải vì thế mà nàng hứa hẹn
Khi tôi qua đời nàng tặng cho tôi
Một túp lều ở gần bên cung điện
Của riêng nàng, luôn có những hoa tươi
Nơi mà sau này chúng tôi sẽ đến.


The Secret Land

Every woman of true royalty owns
A secret land more real to her
Than this pale outer world:

At midnight when the house falls quiet
She lays aside needle or book
And visits it unseen.

Shutting her eyes, she improvises
A five-barred gate among tall birches,
Vaults over, takes possession.

Then runs, or flies, or mounts a horse
(A horse will canter up to greet her)
And travels where she will;

Can make grass grow, coax lilies up
From bud to blossom as she watches,
Lets fish eat out of her palm.

Has founded villages, planted groves
And hollowed valleys for brooks running
Cool to a land-locked bay.

I never dared question my muse
About the government of her queendom
Or its geography,

Nor followed her between those birches,
Setting one leg astride the gate,
Spying into the mist.

Yet she has pledged me, when I die,
A lodge beneath her private palace
In a level clearing of the wood
Where gentians grow and gillyflowers
And sometimes we may meet.


HỒNG NGỌC VÀ THẠCH ANH TÍM 
(Ruby and Amethyst) 

Hai phụ nữ – một tốt như bánh mỳ
Luôn chung thủy với người chồng sung sức.
Một người khác – hiếm như loài mộc dược
Nhưng chỉ thủy chung với chính mình thôi.

Hai phụ nữ – một tốt như bánh mỳ
Luôn trung thành với những gì thề thốt.
Một người khác – hiếm như loài mộc dược
Nhưng không bao giờ thề thốt cùng ai.

Một phụ nữ đeo hồng ngọc trên mình
Nhưng với niềm vui vô cùng giản dị
Để mắt người lạ nhìn vào chỉ nghĩ
Là thủy tinh nên chẳng ngắm gần hơn. 

Hai phụ nữ – một tốt như bánh mỳ
Trong thành phố là người cao quí nhất.
Một người khác – hiếm như loài mộc dược
Không cần một ai khen ngợi công khai. 

Người này mang thạch anh tím trên người
Và trong đó có khu vườn rộng lớn
Mắt bạn có thể hàng giờ thơ thẩn
Và lang thang để đánh mất mình thôi. 

Trên đầu nàng chim én luôn bay lượn
Có vẻ như nàng vô thủy vô chung
Và vẻ nữ tính để hiểu đến cùng
Thì đàn ông không thể nào thấu tận.

Hai phụ nữ – một tốt như bánh mỳ
Chịu đựng tất cả tiết trời khắc nghiệt
Một người khác – hiếm như loài mộc dược
Mọi tiết trời ở trong chính nàng thôi. 

Ruby and Amethyst

Two women: one as good as bread, 
Bound to a sturdy husband.
Two women: one as rare as myrrh, 
Bound only to herself.

Two women: one as good as bread, 
Faithful to every promise.
Two women: one as rare as myrrh, 
Who never pledges faith.

The one a flawless ruby wears, 
But with such innocent pleasure, 
A stranger's eye might think it glass
And take no closer look.

Two women: one as good as bread, 
The noblest of the city.
Two women: one as rare as myrrh, 
Who needs no public praise.

The pale rose-amethyst on her breast
Has such a garden in it
Your eye could wonder there for hours, 
And wonder, and be lost.

About her head a swallow wheels
Noe ever breaks the circuit: 
Glory and awe of womanhood
Still undeclared to man.

Two women: one as good as bread, 
Resistant to all weathers,
Two women: one as rare as myrrh,
Her weather still her own.

Thơ tình Edith Sitwell



MƯA RƠI
 (Still falls the Rain)

Mưa rơi
Tối như cõi người đời, đen như những gì đã mất
Mù như năm 1940
Trên cây thập ác.

Mưa rơi
Tiếng động như nhịp con tim, như búa đang gõ đập
Trên ruộng của Thợ gốm(1), tiếng bước chân của những kẻ lỗi lầm
Trên quan tài:
Tiếng mưa gõ nhịp
Trên đất của Huyết, nơi hy vọng nuôi trí tuệ người trần
Giun vẫn khát khao vầng trán của Cain.

Mưa rơi
Dưới chân Người, trên cây thập ác
Nơi Chúa bị đóng đinh. Suốt đêm mỏi mệt
Xin độ lượng với Người Giàu và cả La-xa-rơ(2)
Mưa rơi trên vải mịn và trên ghẻ khắp người.

Mưa rơi
Huyết của Người bị đóng đinh rơi xuống
Những đau khổ của thế gian trong tim người trú ẩn
Tia lửa trong phút lâm chung
Trong tim kẻ quyên sinh và nỗi buồn của bóng đêm câm nín
Vết thương của con gấu mù(3)
Bị người đánh roi đuổi ra…
Và nước mắt đầm đìa của thỏ(4).

Mưa rơi
Tôi giơ tay đến Chúa(5)
Huyết của Giê-su chảy xuống giữa đời
Huyết từ trán chảy trên cây(6)
Giờ hấp hối con tim người khát nước
Ngọn lửa bùng lên, đớn đau bàn chân bước
Mũ gai trên đầu như vòng nguyệt quế của Caesar(7).
Một giọng nói vang lên – của người sống trên trần
Thuở ấu thơ sinh ra trong máng cỏ, trong chuồng(8)
“Ta yêu con người, Huyết của ta - ánh sáng trinh nguyên – cho con người rót xuống”.
___________

(1)Ruộng của Thợ gốm – theo Kinh Phúc âm: sau khi Giê-su bị bắt, Giu-đa – kẻ phản bội, cảm thấy hối hận bèn đem ba chục miếng bạc trả cho các thầy tế lễ nhưng họ lượm bạc và nói rằng: “Không có phép để bạc này trong kho thánh, vì là giá của huyết”. Rồi họ bàn với nhau dùng bạc mua ruộng của người làm gốm để chôn những khách lạ. Ruộng ấy đến nay còn gọi là “ruộng huyết” (Ma-thi-ơ 27:3-8).
(2)Người Giàu và La-xa-rơ (Dives and Lazarus) – theo Luca người nghèo Lazarus được lên thiên đàng còn người giàu Dives phải về địa ngục (Luca 16: 19-31).
(3)Vết thương của con gấu mù – Sitwell muốn nói về một trò thời trung cổ: xua bầy chó vào con gấu bị xích.
(4)Nước mắt của thỏ – theo truyền thuyết, ngay cả những con thú cũng khóc khi Giê-su chết.
(5)Tôi giơ tay đến Chúa – câu trích từ bi kịch “Doctor Faustus” của Christopher Marlowe (1564 – 1593).
(6)Huyết từ trán chảy trên cây – tức cây để đóng đinh Chúa Giê-su trên đó.
(7)So sánh cái mũ gai Chúa Giêu-su đội trên đầu trước khi bị đóng đinh với vòng nguyệt quế của Caesar,
(8)Theo Kinh Phúc âm: Chúa Giê-su khi sinh ra được đặt nằm trong máng cỏ vì nhà chật chội (Luca 2:7).


Still Falls the Rain
(The Raids, 1940: Night and Dawn)

Still falls the Rain –
Dark as the world of man, black as our loss –
Blind as the nineteen hundred and forty nails upon the Cross.

Still falls the Rain
With a sound like the pulse of the heart that is changed to the hammer beat
In the Potter’s Field, and the sound of the impious feet.

On the Tomb:
                             Still falls the Rain
In the Field of Blood where the small hopes breed and the human brain
Nurtures its greed, that worm with the brow of Cain.

Still falls the Rain
At the feet of the Starved Man hung upon the Cross,
Christ that each day, each night, nails there, have mercy on us –
On Dives and on Lazarus:
Under the Rain the sore and the gold are as one.

Still falls the Rain –
Still falls the Blood from the Starved Man’s wounded Side:
He bears in His Heart all wounds, – those of the light that died,
The last faint spark
In the self-murdered heart, the wounds of the sad uncomprehending dark,
The wounds of the baited bear, –
The blind and weeping bear whom the keepers beat
On his helpless flesh … the tears of the hunted hare.

Still falls the Rain –
Then – O Ile leape up to my God: who pulles me doune –
See see where Christ’s blood streames in the firmament.
It flows from the Brow we nailed upon the tree
Deep to the dying, to the thirsting heart
That holds the fire of the world, – dark-smirched with pain
As Caesar’s laurel crown.
Then sounds the voice of One who like the heart of man
Was once a child who among beasts has lain –
“Still do I love, still shed my innocent light, my Blood, for thee.”

Thơ tình Jenny Joseph




LỜI BÁO TRƯỚC

Khi về già tôi sẽ mặc áo quần màu tía
Đội mũ đỏ, dù màu này không hợp với tôi
Và sẽ dùng lương hưu mua rượu với găng tay
Mua dép sa tanh, dù tiền mua bơ không đủ
Khi mệt mỏi tôi sẽ ngồi nghỉ trên hè phố
Ăn những món ăn trong cửa hàng và học nhấn chuông
Và giơ gậy chĩa vào những rào chắn xung quanh
Khác với vẻ nhẹ nhàng những tháng năm tuổi trẻ
Và tôi sẽ đi dép lê ở dưới trời mưa
Hái những bông hoa không ở vườn nhà
Và sẽ học cách khạc nhổ. 

Có thể mặc tuềnh toàng và không lo ăn thịt mỡ
Hoặc ăn cả ký rưỡi xúc xích trong một lần
Hoặc chỉ ăn bánh mỳ với dưa muối suốt cả tuần
Tích trữ bút và những thứ khác vào trong lọ. 

Nhưng bây giờ thì vẫn cần mặc áo quần sáng sủa
Trả tiền nhà và không chửi mắng ngoài đường phố
Cần phải làm gương tốt cho lũ trẻ con
Đọc báo đều và tiếp bạn bè, nếu họ ghé. 

Nhưng có lẽ bây giờ tôi cũng đã cần phải thử
Những người biết tôi chắc sẽ chẳng ngạc nhiên
Khi về già tôi sẽ mặc áo quần màu tía.


Warning

When I am an old woman I shall wear purple
With a red hat which doesn't go, and doesn't suit me.
And I shall spend my pension on brandy and summer gloves
And satin sandals, and say we've no money for butter.
I shall sit down on the pavement when I'm tired
And gobble up samples in shops and press alarm bells
And run my stick along the public railings
And make up for the sobriety of my youth.
I shall go out in my slippers in the rain
And pick flowers in other people's gardens
And learn to spit.

You can wear terrible shirts and grow more fat
And eat three pounds of sausages at a go
Or only bread and pickle for a week
And hoard pens and pencils and beermats and things in boxes.

But now we must have clothes that keep us dry
And pay our rent and not swear in the street
And set a good example for the children.
We must have friends to dinner and read the papers.

But maybe I ought to practice a little now?
So people who know me are not too shocked and surprised
When suddenly I am old, and start to wear purple.



108 NHÀ THƠ ANH







© Nguyễn Viết Thắng giới thiệu, dịch và chú giải.
Không đăng lại trên các trang Web với mục đích thương mại.

Thơ tình Stevie Smith


KHÔNG VẪY NÊN CHÌM 

Chàng đã chết nhưng vì không ai nghe chàng
Nên dù đã nằm vẫn còn nghe rên rỉ:
Tôi đã kêu mà không ai từng để ý
Vì không đưa tay vẫy, nên chìm. 

Anh chàng tội nghiệp thường yêu chuyện đỏ đen
Và bây giờ thì anh chàng đã chết
Bây giờ con tim anh ta lạnh ngắt 
Thiên hạ vẫn thì thầm. 

Ồ không, không, vẫn lạnh lẽo thường xuyên
(Nên dù chết nằm vẫn còn nghe rên rỉ) 
Suốt cả đời tôi vẫn mong kêu cho thấu
Vì không đưa tay vẫy, nên chìm. 

Not Waving, But Drowing 

Nobody heard him, the dead man, 
But still he lay moaning: 
I was much further out than you thought 
And not waving but drowning. 

Poor chap, he always loved larking 
And now he's dead 
It must have been too cold for him his heart gave way, 
They said. 

Oh, no no no, it was too cold always 
(Still the dead one lay moaning) 
I was much too far out all my life 
And not waving but drowning. 


TRONG NHỮNG GIẤC MƠ CỦA TÔI

Trong những giấc mơ, tôi luôn luôn nói lời tạm biệt và đi
Về đâu và tại sao tôi không biết, mà chẳng quan tâm nữa.
Vì chia tay là ngọt ngào và chia tay là ngọt ngào hơn cả,
Và ngọt ngào nhất là đêm và cơn gió vội vã cuốn đi.

Trong những giấc mơ, họ luôn vẫy tay và nói lời giã từ
Họ rót cho tôi vào cốc và tôi mỉm cười khi uống
Tôi vui với cuộc hành trình, tôi ra đi và vui sướng
Tôi vui vì bạn bè không đọc ra ý nghĩ của tôi. 

In My Dreams

In my dreams I am always saying goodbye and riding away, 
Whither and why I know not nor do I care. 
And the parting is sweet and the parting over is sweeter, 
And sweetest of all is the night and the rushing air. 

In my dreams they are always waving their hands and saying goodbye, 
And they give me the stirrup cup and I smile as I drink, 
I am glad the journey is set, I am glad I am going, 
I am glad, I am glad, that my friends don't know what I think.

Thơ tình Allan Ahlberg



Please Mrs. Butler


Thưa cô Butler, cô ơi
Thằng bé Derek Drew
Lấy của con quyển vở
Con làm sao bây giờ?

Con đi ra phòng lớn
Con đi ra bồn tắm
Lấy sách trên mái nhà
Hãy làm như con muốn. 

Thưa cô Butler, cô ơi
Thằng bé Derek Drew
Lấy của con cục tẩy
Con làm sao bây giờ?

Giữ nó trên tay con
Hoặc giấu vào túi quần
Hoặc nuốt vào trong bụng
Cứ làm theo ý con.

Thưa cô Butler, cô ơi
Thằng bé Derek Drew
Gọi con rất tục tĩu
Con làm sao bây giờ?


Please Mrs Butler

Please Mrs Butler
This boy Derek Drew
Keeps copying my work, Miss.
What shall I do?

Go and sit in the hall, dear.
Go and sit in the sink.
Take your books on the roof, my lamb.
Do whatever you think.

Please Mrs Butler
This boy Derek Drew
Keeps taking my rubber, Miss.
What shall I do?

Keep it in your hand, dear.
Hide it up your vest.
Swallow it if you like, love.
Do what you think best.

Please Mrs Butler
This boy Derek Drew
Keeps calling me rude names, Miss.
What shall I do?

Lock yourself in the cupboard, dear.
Run away to sea.
Do whatever you can, my flower.
But don't ask me!