Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

Thơ tình Boris Slutsky


HẠNH PHÚC VÀ BẤT HẠNH

Hạnh phúc là vòng trònVà người ta
Chầm chậmnhư chiếc kim đồng hồ
Đ
i về điểm cuốinghĩ là về xuất phát
Đ
i theo vòng trònnghĩa là về tuổi thơ
Về thuở đầu trọc lóc
Về thuở hoạt bátngày còn chưa đi học
Về vẻ vui tươilòng tốtthậm chí dại khờ.


Còn bất hạnh - đấy là góc nhọn
Chiếc kim đồng hồ đứng yên!
Và kim phút - vội vàng khép kín
Dồn con người ta vào tường.


Thay vì bất hạnh hói đầu muộn màng
Con người chọn cho mình tóc bạc sớm
Và lặng lẽhý hoáy từng lỗ thủng
Một lỗhai lỗ giữa thắt lưng
Lỗ thứ ba thì hơi bất thình lình
Biết hết.
Bất hạnh - đó là tri thức.

Счастье 

Счастье - это круг. И человек
Медленно, как часовая стрелка,
Движется к концу, то есть к началу,
Движется по кругу, то есть в детство,
В розовую лысину младенца,
В резвую дошкольную проворность,
В доброту, веселость, даже глупость.

А несчастье - это острый угол.
Часовая стрелка - стоп на месте!
А минутная - спеши сомкнуться,
Загоняя человека в угол.

Вместо поздней лысины несчастье
Выбирает ранние седины
И тихонько ковыряет дырки
В поясе - одну, другую,
Третью, ничего не ожидая,
Зная все.
Несчастье - это знанье.



HÓA RA LÀ CHIẾN TRANH

Hóa ra là chiến tranh
Không phải kết thúc bằng thắng lợi.
Và trong những đêm của người goá phụ
Hết đêm lại đến đêm.


Chỉ người chiến thắng từng chiến thắng
Còn người góa phụ vẫn cô đơn
Và đêm đêm từ trong hàng nghìn
Một nầm mồ thổi cho nàng hơi lạnh.


Còn kẻ thuaxưa từng thua trận
Nhưng đã hết đau khổ vì thua
Đã 
vực dậy từ đống đ nát xưa
Và đứng lêntrở thành người chiến thắng.


Bây giờ không còn ọp ẹpbấp bênh
Mà công việc cứ tiến hành suôn sẻ
Chỉ có những người góa phụ
Chồng thứ hai không tìm thấy cho mình.

Оказывается, война

Оказывается, война
не завершается победой.
В ночах вдовы, солдатки бедной,
ночь напролет идет она.

Лишь победитель победил,
а овдовевшая вдовеет,
и в ночь ее морозно веет
одна из тысячи могил.

А побежденный побежден,
но отстрадал за пораженья,
восстановил он разрушенья,
и вновь - непобежденный он.

Теперь ни валко и ни шатко
идут вперед его дела.
Солдатская вдова, солдатка
второго мужа не нашла.


VỀ NGƯỜI DO THÁI

Người Do Thái lúa mì không gieo trồng
Người Do Thái trong cửa hàng buôn bán
Người Do Thái là những người hói sớm
Người Do Thái thường ăn cắp nhiều hơn.

Người Do Thái là những người xấu xa
Họ luôn luôn là những người lính dở
Khi Ivan chiến đấu trong chiến hào
Thì Abram chỉ lo buôn ngoài chợ.

Những điều này nghe từ thời thơ bé
Cho đến khi tôi đã trở nên già
Nhưng dù đi đâu thì tôi vẫn nghe
Tiếng kêu: “Người Do Thái, Do Thái!”

Tôi chưa bao giờ đi buôn đâu cả
Chưa từng ăn cắp dù chỉ một lần
Tôi mang trong mình như con vi trùng
Cái tên gọi chủng tộc này nguyền rủa.

Những viên đạn đã không xuyên vào tôi
Để người nói câu không hề gian dối:
“Bom đạn đã tránh xa người Do Thái!
Và tất cả đều sống sót trở về!”

Про евреев

Евреи хлеба не сеют,
Евреи в лавках торгуют,
Евреи раньше лысеют,
Евреи больше воруют.

Евреи - люди лихие,
Они солдаты плохие:
Иван воюет в окопе,
Абрам торгует в рабкопе.

Я все это слышал с детства,
Скоро совсем постарею,
Но все никуда не деться
От крика: "Евреи, евреи!"

Не торговавши ни разу,
Не воровавши ни разу,
Ношу в себе, как заразу,
Проклятую эту расу.

Пуля меня миновала,
Чтоб говорили нелживо:
"Евреев не убивало!
Все воротились живы!"


TÔI TIN KHẨU HIỆU

Tôi tin tất cả khẩu hiệu đến cùng
Và tôi im lặng làm theo khẩu hiệu
Như người ta vì Chúa đi vào lửa
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần.

Và nếu vách đá vỡ ra thành bụi
Và vực thẳm sẽ mở ra, lặng câm
Và nếu như từng có sự sai lầm –
Là tôi chấp nhận về mình tội lỗi.

Всем лозунгам я верил до конца

Всем лозунгам я верил до конца
И молчаливо следовал за ними,
Как шли в огонь во Сына, во Отца,
Во голубя Святого Духа имя.

И если в прах рассыпалась скала,
И бездна разверзается, немая,
И ежели ошибочка была -
Вину и на себя я принимаю.

Thơ tình Igor Severyanin


CÓ THỂ EM YÊU NHƯNG MÀ EM KHÔNG NÓI

Có thể em yêu nhưng mà em không nói
Không nói ra, tình cảm chẳng cho xem
Mà không được xem thì làm sao biết nổi
Biết thế nào, nếu em cứ lặng im.
Em lo âu, em tự hành hạ mình
Mà có thể không yêu anh, có thể vậy!
1916

Быть может, и любит, да только не скажет...

Быть может, и любит, да только не скажет...
Да только не скажет и чувств не покажет.
А раз не покажет - так что в этом толку.
Да, что в этом толку - любить втихомолку.
Надеждой терзает, надеждой тревожит...
А может быть вовсе не любит? Быть может!



TÌNH KHÔNG TRỞ LẠI

Tình không trở lại, anh thấy tiếc vô cùng
Những ngày vui của tình yêu thuở ấy
Giờ không còn ánh mắt em mệt mỏi
Trong ánh mắt ngời miền bí ẩn xa xăm.

Tình không trở lại, trong lòng anh nỗi buồn
Như trên tuyết dần tan khắp mọi ngả
Không trả lại em phút giây tình thắm đỏ
Tình không còn - tháng Hai cũng bâng khuâng.

Sao vô vàn giữa khô cạn đại dương
Chiếu lạnh lẽo giữa hằng hà vô số
ánh sáng lạnh lùng, ánh sáng đau thương

Không số phận, không âu yếm đã từng
Anh hiểu rằng hạnh phúc không còn nữa
Tình không trở lại, tình đã không còn!..
1908

Любви возврата нет

Любви возврата нет, и мне как будто жаль
Бывалых радостей и дней любви бывалых;
Мне не сияет взор очей твоих усталых,
Не озаряет он таинственную даль…

Любви возврата нет, — и на душе печаль,
Как на снегах вокруг осевших, полуталых.
— Тебе не возвратить любви мгновений алых:
Любви возврата нет, — прошелестел февраль.

И мириады звёзд в безводном океане
Мигали холодно в бессчетном караване,
И оскорбителен был их холодный свет:

В нём не было былых ни ласки, ни участья…
И понял я, что нет мне больше в жизни счастья,
Любви возврата нет!..


PUSKIN

Anh, đó chính là - Phút giây huyền diệu
Đã ghi sâu tâm khảm đến muôn đời
Anh là hiện thân của nguồn Xúc cảm ấy
Trước nguồn Cảm hứng này Cát bụi cũng xin lui.

Chỉ mình anh trong lòng người đang sống
Không thành tử thi dù đã lâm chung
Anh muôn thuở trong lòng người, vẫn sống
Cái chết ở đây không nói “cuối cùng”.

Bởi trong thơ anh trị vì Cái đẹp
Cái đẹp chỉ ra vẻ mặt muôn đời
Ta chẳng hình dung là anh đã chết
Và điều này - anh vĩ đại quá thôi!

Dù anh đã già đối với người đời
Nhưng với anh, những con người hiện tại
Rất nhỏ bé: bởi Phút giây huyền diệu ấy
Còn tuyệt vời hơn cả thế kỷ của tôi!

Пушкин (Он — это чудное мгновенье)

Он — это чудное мгновенье,
Запечатленное в веках!
Он — воплощенье Вдохновенья,
И перед ним бессилен прах…

Лишь он один из всех живущих
Не стал, скончавшись, мертвецом:
Он вечно жив во всех поющих,
И смерть здесь не звучит «концом».

В его созданьях Красота ведь
Показывает вечный лик.
Его нам мертвым не представить
Себе, и этим он велик!

Пускай он стар для современья,
Но современье для него
Ничтожно: ведь его мгновенье —
Прекрасней века моего!


GẶP GỠ ĐỂ RỒI CHIA XA

Gặp gỡ để rồi chia xa
Yêu để mà không yêu nữa.
Ta muốn cười lên hề hề
Ta muốn khóc lên nức nở!
Thề thốt để nuốt lời thề
Ước mơ để rồi nguyền rủa…
Thật khổ cho người hiểu ra
Tất cả những trò vô bổ.
Ở quê muốn lên thành phố
Ở phố muốn về quê chơi
Đâu đâu cũng gương mặt người
Mà sao lòng lang dạ thú…
Sắc đẹp thường hay quái gở
Quái hình có vẻ đẹp xinh
Thường có cao thượng đê hèn
Vô tội cả điều ác dữ.
Làm sao không khóc nức nở
Làm sao không cười hề hề
Khi nào có thể chia xa
Khi nào thì không yêu nữa?

Встречаются, чтоб расставаться

Встречаются, чтоб расставаться,
Влюбляются, чтоб разлюбить.
Мне хочется расхохотаться
И разрыдаться, и не жить!
Клянутся, чтоб нарушить клятвы,
Мечтают, чтоб клянуть мечты...
О, горе тем, кому понятны
Все наслаждения тщеты.
В деревне хочется столицы...
В столице хочется души...
И всюду человечьи лица
Бесчеловеческой души...
Как часто красота уродна
И есть в уродстве красота...
Как часто низость благородна
И злы невинные уста.
Так как же не расхохотаться,
Не разрыдаться, как же жить,
Когда возможно расставаться,
Когда возможно разлюбить? 



KINH NGHIỆM ĐAU BUỒN

Tôi rút ra một kinh nghiệm đau buồn
Cái gì xa lạ vẫn là xa lạ.
Đi về nhà mặt nước vịnh như gương
Giờ mùa xuân đang về bên cánh cửa.

Còn một mùa xuân nữa. Có thể là
Xuân cuối cùng. Nhưng mà không sao cả
Mùa xuân giúp cho tâm hồn hiểu ra
Điều tốt đẹp của ngôi nhà từ bỏ.

Có của mình, đừng xây thêm cái nữa
Chỉ bằng lòng với một thứ mà thôi
Thật dột làm chủ cái của người:
Cái gì xa lạ vẫn là xa lạ.
1936

ГРУСТНЫЙ ОПЫТ

Я сделал опыт. Он печален.
Чужой останется чужим.
Пора домой; залив зеркален,
Идет весна к дверям моим.

Еще одна весна. Быть может,
Уже последняя. Ну, что ж,
Она постичь душе поможет,
Чем дом покинутый хорош.

Имея свой, не строй другого.
Всегда довольствуйся одним.
Чужих освоить бестолково:
Чужой останется чужим.


TÔI CHƯA BAO GIỜ LỪA DỐI GÌ AI

Tôi chưa bao giờ lừa dối gì ai
Chính vì thế mà đời tôi đau khổ
Chính vì thế mà người ta phỉ nhổ
Chẳng ai cần tôi cũng bởi điều này.

Chưa bao giờ tôi lừa dối gì ai.
Chính vì thế cuộc đời trôi buồn bã.
Danh vọng, tình yêu tôi đều xa lạ
Vốn là bản chất gian dối của đời.

Tôi không biết con đường đi về nơi
Có tiếng cười bán mua và khen ngợi
Nhưng lòng tôi có một điều an ủi:
Tôi chưa bao giờ lừa dối gì ai.
1909

Я НЕ ЛГАЛ

Я не лгал никогда никому,
Оттого я страдать обречен,
Оттого я людьми заклеймен,
И не нужен я им потому.

Никому никогда я не лгал.
Оттого жизнь печально течет.
Мне чужды и любовь, и почет
Тех, чья мысль - это лживый закал.

И не знаю дороги туда,
Где смеется продажная лесть.
Но душе утешение есть:
Я не лгал никому никогда.



ĐỪNG GANH TỴ

Đừng ganh tỵ, nếu như bạn giàu hơn
Bạn đẹp hơn và thông minh hơn hẳn.
Để cho giàu có, thành công người bạn
Không làm đôi chân mình phải run lên…

Hãy bước đi theo con đường của mình
Và mỉm cười trước thành công của bạn:
Như là hạnh phúc của mình trên ngưỡng
Còn người ta – tiếng khóc, cảnh khốn cùng.

Hãy cười lên! Khóc bằng nước mắt người khác!
Hãy cảm nhận bằng tất cả trái tim!
Đừng ngăn người hoan hỉ trước thành công:
Đấy là bất nhân! Đấy là tội ác!
1909

Не завидуй другу..

Не завидуй другу, если друг богаче,
Если он красивей, если он умней.
Пусть его достатки, пусть его удачи
У твоих сандалий не сотрут ремней…

Двигайся бодрее по своей дороге,
Улыбайся шире от его удач:
Может быть, блаженство – на твоем пороге,
А его, быть может, ждут нужда и плач.

Плачь его слезою! Смейся шумным смехом!
Чувствуй полным сердцем вдоль и поперек!
Не препятствуй другу ликовать успехом:
Это – преступленье! Это – сверхпорок!


BÀI XTĂNGXƠ

Hạnh phúc cuộc đời – ở trong tia lửa
Là ở trong sự giác ngộ thoáng qua
Trong giấc mơ tươi sáng, nhưng thanh tao
Và ở trong đôi mắt em mệt lử.

Đau khổ – là ở trong muôn đời lầm lỡ
Trong sự tranh cãi với chúng thường xuyên
Trong sự nhạo báng của những bậc đại hiền
Trong sự mưu cầu hạnh phúc – là đau khổ.
1907

СТАНСЫ

Счастье жизни - в искрах алых,
В просветленьях мимолетных,
В грезах ярких, но бесплотных,
И в твоих очах усталых.

Горе - в вечности пороков,
В постоянном с ними споре,
В осмеянии пророков
И в исканьях счастья - горе.
1907


KHÔNG HƠN MỘT GIẤC MƠ

Hôm qua tôi mơ một giấc mơ lạ lùng:
Tôi đi cùng cô gái đọc thơ Blok.
Ngựa lặng lẽ đi. Bánh xe xào xạc.
Nước mắt rơi. Phấp phới mái tóc vàng…

Ngoài ra giấc mơ không còn gì khác…
Nhưng tôi sốc và xúc động vô cùng
Suốt cả ngày suy nghĩ, thấy run run
Về cô gái lạ kỳ chưa quên thơ Blok.
1927

Не более, чем сон

Мне удивительный вчера приснился сон:
Я ехал с девушкой, стихи читавшей Блока.
Лошадка тихо шла. Шуршало колесо.
И слёзы капали. И вился русый локон…

И больше ничего мой сон не содержал…
Но, потрясённый им, взволнованный глубоко,
Весь день я думаю, встревоженно дрожа,
О странной девушке, не позабывшей Блока.


Tranh "Quỉ ngồi" (Демон сидящий) Vrubel

BLOK

Đẹp như Quỉ ngồi*, dành cho phụ nữ
Anh trông giống như một con thiên nga
Lông trắng hơn cả bạc, cả mây kia
Thân hình giống như áo French, thật lạ.

Anh nhân từ với những gì rất nhỏ
Tinh tế nhìn ra trong cái ác lòng nhân.
Bay lên. Đổ xuống. Ý nghĩ lang thang
Yêu Tình yêu, Cái chết, chiều hai thứ. 

Anh kiếm tình trên đất cho uổng phí
Tình chẳng có ở đây. Khi nhe răng
Đến chết, hiểu ra: – Người đàn bà xa lạ… 

Trên thiên đường tiếng bước chân giòn giã
Blok đến. Mang theo những bài thơ
Trong chiếc túi thơ lãng du rạng rỡ… 
_____________
*Демон Врубеля nghĩa là bức tranh “Quỉ ngồi” (Демон сидящий) của họa sĩ Mikhail Vrubel (1856 – 1910); Áo French – là một loại áo khoác trong quân đội của Đế quốc Nga, sau đấy là Liên Xô lấy theo tên của một vị tướng Anh, John French (1852 – 1925), áo này được Chủ tịch Stalin và Chủ tịch Mao Trạch Đông thích mặc; Yêu Tình yêu – ý nói đến người vợ của Blok là Lyubov Mendeleeva.

Блок

Красив, как Демон Врубеля для женщин,
Он лебедем казался, чье перо
Белей, чем облако и серебро,
Чей стан дружил, как то ни странно, с френчем.

Благожелательный к меньшим и меньшим,
Дерзал — поэтно видеть в зле добро.
Взлетал. Срывался. В дебрях мысли брел.
Любил Любовь и Смерть, двумя увенчан.

Он тщетно на земле любви искал:
Ее здесь нет. Когда же свой оскал
Явила Смерть, он понял: — Незнакомка…

У рая слышен легкий хруст шагов:
Подходит Блок. С ним — от его стихов
Лучащаяся — странничья котомка…


THƠ TỪ BI

Hãy tỏ lòng thương với người bệnh tật
Bằng cả trái tim, bằng cả tấm lòng
Đừng coi người ấy như là người khác
Dù người ấy là xa lạ với anh.

Hãy để người ấy tìm đến với anh
Giống như con trẻ hướng về người mẹ
Hãy để trong con người anh, hãy để
Người bay về anh bằng cả trái tim.

Hãy gieo hy vọng cho điều vô vọng
Bỏ qua tất cả, tất cả yêu thương
Hãy thể hiện sự dịu dàng của mình
Để người hấp hối trở nên sống động.

Và anh sẽ thấy hân hoan vui sướng
Trên mặt đất vốn dĩ đã u sầu…
Hãy tỏ lòng thương với từng người bệnh
Sự cảm thông người ấy biết nghe theo.
1921

Поэза сострадания

Жалейте каждого больного
Всем сердцем, всей своей душой,
И не считайте за чужого,
Какой бы ни был он чужой.

Пусть к вам потянется калека,
Как к доброй матери — дитя;
Пусть в человеке человека
Увидит, сердцем к вам летя.

И, обнадежив безнадежность,
Все возлюбя и все простив,
Такую проявите нежность,
Чтоб умирающий стал жив!

И будет-радостна вам снова
Вся эта грустная земля…
Жалейте каждого больного,
Ему сочувственно внемля.

Thơ tình David Samoylov




SỐ PHẬN MÌNH

Số phận mình, anh trao em muôn thuở
Và dù cho số phận có đau buồn
Điều vu khống ở cùng anh, em ạ
Tự buổi ban đầu và rất ngẫu nhiên.

Mục đích của anh vô cùng đơn giản
Và điều này chẳng có chút gì thêm:
Vì cái ác anh không hề mở miệng
Chỉ mình em anh ca tụng, tạ ơn.

Тебе свою судьбу вручил навек

Тебе свою судьбу вручил навек,
И как бы ни была судьба печальна,
Меня не отлучит любой навет
И то, что изначально и случайно.

Суть назначенья моего проста,
И к этому мне нечего добавить:
Во имя зла не разжимать уста
И лишь тебя благословлять и славить.


HỐI HẬN ĐIỀU ĐÃ LÀM THẬT KHÓ

Tất cả những gì mà tôi đem cho
Thì bây giờ vẫn còn đây đầy đủ.
Nhưng những gì mà tôi được nhận về
Thì bây giờ đang ra đi hết cả…

Phạm lỗi lầm, quả thật, chẳng khó gì
Nhưng hối hận điều đã làm thật khó.

То, что от меня пошло

То, что от меня пошло,
Так при мне останется.
Ну а что ко мне пришло,
От меня отвалится...

Как грешить ни тяжело,
Тяжелее каяться.


KHÔNG QUAN TRỌNG

“Đừng ăn cắp”* - hãy tự nói với mình
Và hãy tránh thật xa sự cám dỗ.

Hãy tự nói với mình: “Chớ giận hờn”
Và bạn sẽ không giận hờn, có thể.

“Chớ giết người” - hãy tự nói với mình
Và con dao hãy để sang một bên.

Còn câu “Hãy yêu người” - hãy hát
Nhưng bạn không yêu, thôi thì cứ mặc.

Nếu bạn không ăn cắp, không giết người
Thì không quan trọng: bạn chẳng yêu ai.
___________


*Những lời răn trong Kinh Thánh.

Скажи себе: »Не укради!

Скажи себе: »Не укради!
И от соблазна отойди.

Себе промолви: »Не обидь!»
И не обидишь, может быть.

И «Не убий!» - себе скажи,
И нож подальше отложи.

А там уж «Возлюби!» воспой.
А не возлюбишь, бог с тобой.

Коль не украл и не убил,
Неважно, что не возлюбил.


ĐỪNG GIỤC GÌ KÝ ỨC

Đừng giục gì ký ức
Mà giấu khỏi mắt nhìn.
Cho những người xung quanh
Đem kể câu chuyện nhạt.

Mà nếu đã chín muồi
Và kìm lòng rất nặng
Thì hãy nói như điều
Chưa xảy ra với bạn.

Đêm nghe tiếng mưa rơi
Rồi chảy vào ống xối
Ký ức điên đang cười
Và khóc về bạn đấy.

Не торопи пережитого

Не торопи пережитого,
Утаивай его от глаз.
Для посторонних глухо слово
И утомителен рассказ.

А ежели назреет очень
И сдерживаться тяжело,
Скажи, как будто между прочим
И не с тобой произошло.

А ночью слушай — дождь лопочет
Под водосточною трубой.
И, как безумная, хохочет
И плачет память над тобой.