Thứ Hai, 1 tháng 6, 2020

Thơ tình Tomas Tranströmer


VERMEER

Thế giới không có mái che. Tiếng động từ bên kia bức tường
quán nhậu bắt đầu bằng tiếng cười ồn, tiếng rít của răng
tiếng chuông đồng hồ và tin về cái chết
mà khi nghe thấy ai ai cũng đều run 
bần bật. 

Một tiếng nổ vang và tiếng bước chân của những người cứu hộ muộn màng
những con tàu lớn đậu trên sông
tiền chui vào túi không phải của những người cần
những đòi hỏi chất đống lên đòi hỏi
hoa màu đỏ linh cảm mồ hôi của chiến tranh. 

Từ quán, xuyên qua bức tường đi thẳng vào phòng
vào cái khoảnh khắc sẽ kéo dài bằng cả trăm năm.
Những bức tranh có tên “Giờ học nhạc”
hoặc “Cô gái ngồi đọc thư bên cửa sổ mặc áo màu xanh” –
cô mang thai tám tháng, hai con tim đập trong người mình.
Bức tường phía sau cô treo tấm bản đồ Terra Incognita – miền đất lạ.

Hơi thở bình yên… Một tấm vải lạ lẫm màu xanh
được đính vào chiếc ghế từ phía sau lưng.
Những chiếc đinh vàng bay vun vút rồi bỗng lặng ngừng
giữa không khí như là bất động mà chưa từng là gì khác. 

Đôi tai nghe ra tiếng động của chiều cao và chiều sâu cùng lúc.
Đấy là áp lực từ phía bên kia của bức tường.
Nó phơi bày mỗi sự việc ra giữa không trung
và làm cho vững chắc thêm từng nét bút. 

Thật đau đớn phải đi qua những bức tường
bạn chịu tổn thương nhưng điều này cần thiết lắm
Thế giới là một. Nhưng có những bức tường… 
Những bức tường là một phần của bạn
tất cả mọi người đều thế – dù bạn có đoán mò đoán mẫm –
ngoại trừ trẻ con. Đối với trẻ con không có những bức tường. 

Bầu trời thoáng đãng dựa vào bức tường.
Hướng vào khoảng không như là cầu nguyện.
Và quay mặt hướng về phía chúng ta – khoảng không
và thì thầm:
“Tôi không phải là trống không, tôi là mở rộng”. 
_____________
*Johannes Vermeer hay Jan Vermeer (1632 – 1675) là họa sĩ người Hà Lan thời Baroque, nổi tiếng với các tác phẩm về đời sống hiện thực. Hiện nay Vermeer được coi là một trong những họa sĩ vĩ đại nhất trong Thế kỷ vàng của nghệ thuật Hà Lan. 

Vermeer

Ingen skyddad värld... Strax bakom väggen börjar larmet 
börjar värdshuset
med skratt och kvirr, tandrader tårar klockornas dån 
och den sinnesrubbade svågern, dödsbringaren som alla måste 
   darra för.

Den stora explosionen och räddningens försenade tramp 
båtarna som kråmar sig på redden, pengarna som kryper ner i
   fickan på fel man
krav som staplas på krav
gapande röda blomkalkar som svettas föraningar om krig.

Därifrån och tvärs genom väggen in i den klara ateljén
in i sekunden som får leva i århundraden.
Tavlor som kallar sig ”Musiklektionen”
eller ”Kvinna i blått som läser ett brev” –
hon är i åttonde månaden, två hjärtan sparkar i henne.
På väggen bakom hänger en skrynklig karta över Terra Incognita.

Andas lugnt... En okänd blå materia är fastnaglad vid stolarna.
Guldnitarna flög in med oerhörd hastighet 
och tvärstannade
som om de aldrig varit annat än stillhet.

Det susar i öronen av antingen djup eller höjd.
Det är trycket från andra sidan väggen.
Det får varje faktum att sväva
och gör penseln stadig.

Det gör ont att gå genom väggar, man blir sjuk av det
men det är nödvändigt.
Världen är en. Men väggar...
Och väggen är en del av dig själv –
man vet det eller vet det inte men det är så för alla
utom för små barn. För dem ingen vägg.

Den klara himlen har ställt sig på lut mot väggen.
Det är som en bön till det tomma.
Och det tomma vänder sitt ansikte till oss
och viskar
”Jag är inte tom, jag är öppen”.


TỪ THÁNG BA – 79

Mệt vì người ta đến với những lời mà không ngôn ngữ
Tôi bèn đến một hòn đảo có tuyết phủ đầy.
Nơi hoang dã chẳng có lời.
Có quá nhiều những trang chưa viết!
Tôi bắt gặp những móng chân hươu trên tuyết.
Ngôn ngữ nhưng chẳng có lời.

 Från mars -79

Trött på alla som kommer med ord, ord men inget språk
for jag till den snötäckta ön.
Det vilda har inga ord.
De oskrivna sidorna breder ut sig åt alla håll!
Jag stöter på spåren av rådjursklövar i snön.
Språk men inga ord.


THÁNG TƯ VÀ IM LẶNG

Mùa xuân hoang vu.
Một rãnh nước màu nhung sẫm
bò sát bên cạnh ta
không hình phản ánh. 

Chỉ một thứ duy nhất lấp lánh
là những bông hoa màu vàng. 

Chiếc bóng mang
ta đi như chiếc vĩ cầm
trong chiếc hộp màu sẫm tối. 

Điều duy nhất mà ta muốn nói
lóe lên ngoài tầm đạt tới
như đồ bạc ánh lên
ở người cho vay nặng lãi. 

April och Tystnad

Våren ligger öde.
Det sammetsmörka diket 
krälar vid min sida 
utan spegelbilder.

Det enda som lyser 
är gula blommor.

Jag bärs i min skugga
som en fiol 
i sin svarta låda.

Det enda jag vill säga 
glimmar utom räckhåll
som silvret 
hos pantlånaren.


NHẠC CHẬM

Nhà đóng cửa. Mặt trời len qua ô cửa sổ
sưởi ấm mặt chiếc bàn nhỏ
và đủ mạnh để mang số phận của con người. 

Ngày hôm nay chúng tôi dạo chơi trên sườn dốc rộng và dài.
Nhiều người mặc đồ màu tối. Có thể đứng dưới mặt trời, mắt nhắm lại
và cảm nhận rằng cơn gió đang mang bạn chơi vơi. 

Tôi rất hiếm khi đi xuống biển. Nhưng bây giờ tôi đang ở đây 
giữa những tảng đá lưng trần êm ả
Những tảng đá đang dần quay lưng lùi xa biển cả.

Långsam musik

Byggnaden är stängd. Solen tränger in genom fönsterrutorna
och värmer upp ovansidan på skrivborden
som är starka nog att bära människoödens tyngd.

Vi är ute i dag, på den långa vida sluttningen.
Många har mörka kläder. Man kan stå i solen och blunda
och känna hur man långsamt blåser framåt.

Jag kommer för sällan fram till vattnet. Men nu är jag här,
bland stora stenar med fridfulla ryggar.
Stenar som långsamt vandrat baklänges upp ur vågorna.


CUNG ĐÔ TRƯỞNG

Khi chàng trở về từ nơi hò hẹn
tuyết xoáy giữa không trung.
Mùa đông đã đến
trong khi họ nằm cùng
Đêm tỏa hào quang ngời sáng.
Chàng dường như chạy với vẻ hân hoan
Đường khắp thành phố chỉ toàn đi xuống. 
Chàng mỉm cười với người qua đường
tất cả mỉm cười sau cổ áo mở tung.
Tự do là thế!
Tất cả dấu hỏi hát về sự tồn tại của Chúa Trời.
Chàng nghĩ vậy.

Tiếng nhạc vang lên
và bước đi trong tuyết xoáy
bằng những bước thong dong. 
Cuộc dạo chơi dưới cung Đô trưởng.
La bàn run rẩy hướng về Đô trưởng.
Một giờ hướng về phía bắc bởi niềm đau.
Thật dễ dàng biết bao!
Tất cả mỉm cười từ sau cổ áo.

C-dur

När han kom ner på gatan efter kärleksmötet
virvlade snö i luften.
Vintern hade kommit
medan de låg hos varann.
Natten lyste vit.
Han gick fort av glädje.
Hela staden sluttade.
Förbipasserande leenden -
alla log bakom uppfällda kragar.
Det var fritt!
Och alla frågetecken började sjunga om Guds tillvaro.
Så tyckte han.

En musik gjorde sig lös
och gick i yrande snö
med långa steg.
Allting var på vandring mot ton C.
En darrande kompass riktad mot C.
En timme ovanför plågorna.
Det var lätt!
Alla log bakom uppfällda kragar.


ESPRESSO

Cà phê đen trên quán cà phê vỉa hè
với bàn ghế, như côn trùng, rực rõ.

Những giọt cà phê đen quí giá
chất đầy một sức mạnh Có và Không.

Được bưng ra từ nơi tối như bưng
nó nhìn mặt trời mà không chớp mắt.

Giữa ánh sáng ban ngày – tươi mát một chấm đen
chảy tuột nhanh vào kẻ thực khách tái nhợt.

Giống như những giọt đen sâu sắc
đôi khi chúng tìm bắt những linh hồn.

Tạo nên một cú đẩy hữu ích: Đi anh!
Nguồn cảm hứng – trong những đôi mắt mở rộng.

Espresso

Det svarta kaffet på uteserveringen
med stolar och bord granna som insekter.

Det är dyrbara uppfångade droppar
fyllda med samma styrka som Ja och Nej.

Det bärs fram ur dunkla kaféer
och ser in i solen utan att blinka.

I dagsljuset en punkt av välgörande svart
som snabbt flyter ut i en blek gäst.

Det liknar dropparna av svart djupsinne
som ibland fångas upp av själen.

som ger en välgörande stöt: Gå!
Inspiration att öppna ögonen.


HAI NGƯỜI 

Họ tắt đèn, và chao đèn màu trắng chập chờn
thêm một khoảnh khắc trước khi hòa tan
như viên thuốc trong ly. Sau bật dậy.
Tường khách sạn hướng về phía trời đêm. 

Cơn say tình đã dịu đi, và họ ngủ
nhưng những ý nghĩ kín thầm tìm đến với nhau
giống như khi hai màu sắc hòa thành một màu
trên giấy ướt, trong bức tranh cậu học trò vừa vẽ. 

Tối và yên lặng. Nhưng thành phố dường như tiếp cận 
trong đêm. Cửa sổ tối. Xích lại những ngôi nhà
Chúng như đứng sát bên nhau, và đợi chờ
đám đông với những gương mặt vô cùng hờ hững.

 Paret

De släcker lampan och dess vita kupa skimrar
ett ögonblick innan den löses upp
som en tablett i ett glas mörker. Sedan lyftas.
Hotellets väggar skjuter upp i himmelsmörkret.

Kärlekens rörelser har mojnat och de sover
men deras hemligaste tankar möts
som när två färger möts och flyter in i varann
på det våta papperet i en skolpojksmålning.

Det är mörkt och tyst. Men staden har ryckt närmare
i natt. Med släckta fönster. Husen kom.
De står i hopträngd väntan mycket nära,
en folkmassa med uttryckslösa ansikten.


SAU CÁI CHẾT

Từng có một cú sốc
Như sao chổi bỏ lại cái đuôi dài, nhạt và lung linh
Bao phủ lấy ta. Làm mờ màn ảnh máy thu hình.
Thành những giọt sương lạnh đậu trên dây điện thoại. 

Còn có thể trượt tuyết dưới mặt trời mùa đông
giữa cánh rừng còn vương nhiều chiếc lá.
Như những trang xé từ trong danh bạ
mà băng giá đã làm mờ nhạt tuổi tên. 

Thật tuyệt khi còn nghe tiếng đập con tim
Nhưng thường xuyên bóng thực hơn thể xác. 
Samurai ảo mờ nâng kiếm thép
Sau giáp bào lấp lóa vảy rồng đen. 

Efter någons död

Det var en gång en chock
som lämnade efter sig en lång, blek, skimrande kometsvans.
Den hyser oss. Den gör TV—bilderna suddiga.
Den avsätter sig som kalla droppar på luftledningarna.

Man kan fortfarande hasa fram på skidor i vintersolen
mellan dungar där fjolårslöven hänger kvar.
De liknar blad rivna ur gamla telefonkataloger—
abonnenternas namn uppslukade av kölden.

Det är fortfarande skönt att känna sitt hjärta bulta.
Men ofta känns skuggan verkligare än kroppen.
Samurajen ser obetydlig ut
bredvid sin rustning av svarta drakfjäll.


NHỮNG VÁCH ĐÁ ĐẠI BÀNG

Sau lớp kính lồng
loài bò sát lạ lùng
nằm im không cử động. 

Người phụ nữ giặt áo quần
rồi phơi trong lặng yên.
Cái chết vô cùng tĩnh lặng. 

Tâm trí tôi chơi vơi
ở nơi sâu tận cùng đang bơi
nhẹ nhàng như ngôi sao chổi.

Örnklippan

Bakom terrariets glas
reptilerna
underligt orörliga.

En kvinna hänger tvätt
i tystnaden.
Döden är vindstilla.

I markens djup
glider min själ
tyst som en komet.


MADRIGAL

Tôi được thừa kế một khu rừng tối mà tôi ít khi đến nơi đây. Nhưng sẽ đến một ngày, khi người chết sẽ thế chỗ cho người sống. Thì khi đó rừng của tôi sẽ chuyển động. Và chúng ta vẫn hãy còn hy vọng. Những tội ác nghiêm trọng nhất vẫn không được vạch trần bất chấp những nỗ lực của công an. Trong cuộc sống của mỗi chúng ta thì cũng thế, luôn có một tình yêu lớn không hề được tiết lộ. Tôi được thừa kế một khu rừng tối nhưng hiện tại tôi dạo chơi trong một khu rừng khác có ánh sáng ngập tràn. Mọi sinh linh đang vẫy vùng, run rẩy và hát lên. Đó là một mùa xuân và không khí tràn ngập mùi hương. Tôi từng tốt nghiệp trường Đại học lãng quên và đôi bàn tay của tôi trống không như chiếc áo trên chiếc dây phơi quần áo. 

Madrigal

Jag ärvde en mörk skog dit jag sällan går. Men det kommer en dag när de döda och levande byter plats. Då sätter sig skogen i rörelse. Vi är inte utan hopp. De svåraste brotten förblir ouppklarade trots insats av många poliser. På samma sätt finns någonstans i våra liv en stor uoppklarad kärlek. Jag ärvde en mörk skog men idag går jag i en annan skog, den ljusa. Allt levande som sjunger slingrar viftar og kryper! Det är vår och luften är mycket stark. Jag har examen från glömskans universitet och är lika tomhänt som skjortan på tvättstrecket.


CỬA VÒM LA MÃ

Bên trong một nhà thờ La Mã lớn
khách du lịch đang tụ tập ở nơi chập choạng.
Những cửa vòm nối tiếp nhau như đến vô cùng.
Những ngọn nến tỏa ánh sáng lung linh.
Ôm lấy tôi – một thiên thần không nhìn thấy mặt
rót vào thân thể tôi bằng những tiếng thì thầm:
“Chớ xấu hổ rằng mi là con người mà hãy tự hào lên!
Sâu bên trong mi là những vòm cuốn mở ra nối tiếp nhau
rồi đi vào muôn kiếp, mi sẽ không bao giờ kết thúc”.
Tôi như bị mù bởi những giọt nước mắt rơi
và tôi bước ra quảng trường đầy ánh mặt trời
cùng với ông bà Jones, Quí ông Tanaka, Quí bà Sabatini
Sâu bên trong họ là những vòm cuốn nối tiếp nhau mở ra 
rồi đi vào muôn kiếp. 

Romanska bågar

Inne i den väldiga romanska kyrkan
trängdes turisterna i halvmörkret.
Valv gapade bakom valv och ingen överblick.
Några ljuslågor fladdrade.
En ängel utan ansikte omfamnade mig
och viskade genom hela kroppen:
”Skäms inte för att du är människa, var stolt!
Inne i dig öppnar sig valv bakom valv oändligt.
Du blir aldrig färdig, och det är som det skall.”
Jag var blind av tårar
och föstes ut på den solsjudande
piazzan tillsammans med Mr och Mrs Jones,
Herr Tanaka och Signora Sabatini,
och inne i dem alla öppnade sig valv bakom valv oändligt.


THI TIẾT ALCAIC 

Trong rừng tháng Năm. Cuộc đời tôi lao như chiếc xe tải vô hình
tiếng hót của chim. Trong vũng nước - ấu trùng của muỗi.
Và trong những điệu nhảy điên khùng
đang nhảy múa cả hàng nghìn dấu hỏi.

Tôi chạy đến với những lời và những khu rừng.
Cơn gió từ biển, con rồng liếm tôi vào cổ
trong khi mặt trời như đam mê rực đỏ.
Chiếc xe tải cháy bừng trong ngọn lửa giá băng.

 Alkaiskt

En skog i maj. Här spökar mitt hela liv:
det osynliga flyttlasset. Fågelsång.
I tysta gölar mygglarvernas
ursinnigt dansande frågetecken.

Jag flyr till samma platser och samma ord.
Kall bris från havet, isdraken slickar mig
i nacken medan solen gassar.
Flyttlasset brinner med svala lågor.


GOGOL

Áo khoác lạnh và xơ lông như bầy sói.
Khuôn mặt trắng toát như đá cẩm thạch
Ông ngồi lật từng trang sách, nghe từ trong rừng
tiếng tru về sai lầm và coi khinh sự mất mát.
Con tim vỡ tung như dây đai bằng giấy nháp
khi những con thú kia nghiệt ngã nhảy vào. 

Hoàng hôn bò như một con cáo trên đất nước này
Cỏ chạm vào đuôi mà không lên mặt.
Không gian đầy sừng và móng guốc
xe ngựa bốn bánh đổ bóng lên sân đầy 
trong trang trại của cha tôi. 

St Petersburg nằm trên đường kinh tuyến điêu tàn
(bạn có nhìn thấy vẻ đẹp của tháp nghiêng?)
người dân thành phố đang thơ thẩn
như con sứa trong nước đóng băng. 

Còn ông kiệt sức bởi ăn chay 
và tiếng cười bao quanh
nhưng tiếng cười vỡ ra trên rừng. 
Và tan tác.
Làm sao để dải Ngân hà của những linh hồn cháy lên.
Thôi thì hãy ngồi vào bánh xe bằng lửa của mình
và rời khỏi đất nước. 
_____________
*Nikolai Vasilievich Gogol (1809 – 1852) – nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch Nga, tác gia cổ điển của văn học Nga, tác giả của “Những linh hồn chết”.

Gogol

Kavajen luggsliten som en vargflock.
Ansiktet som en marmorflisa.
Sitter i kretsen av sina brev i lunden som susar
av hån och misstag,
ja hjärtat blåser som ett papper genom de ogästvänliga
¬passagerna.

Nu smyger solnedgången som en räv över detta land,
antänder gräset på ett ögonblick.
Rymden är full av horn och klövar och därunder
glider ¬kaleschen skugglik mellan min faders
upplysta gårdar.

Petersburg beläget på samma breddgrad som förintelsen
(såg du den sköna i det lutande tornet)
och kring nedisade kvarter än svävar manetlikt
den arme i sin kappa.

Och här, insvept i fastor, är han som förr omgavs av
skrattens hjordar,
men de har för länge sedan begivit sig till trakter långt
ovanför trädgränsen.
Människors raglande bord.
Se ut, hur mörkret bränner fast en vintergata av själar.
Så stig upp på din eldvagn och lämna landet!



Thơ tình Erik Axel Karlfeldt


DƯỚI TRĂNG

Sub luna amo.*
Cô dâu tôi màu tối
Cháy lên dưới hoàng hôn
Như ánh trăng tỏa sáng
Như hoa tỏa mùi hương
Trong đêm hè nóng bỏng
Như giọt sương mai chuyển
Từ sáng đến mờ dần.

Sub luna bibo.**
Bia của tôi màu tối
Bọt bia sáng ngời lên
Và dường như dưới đáy
Những  nụ cười, ý nghĩ
Đọng lại thật ngẫu nhiên
Còn trên chiếc cốc vại
Bay những chiếc lá vàng.

Sub luna canto.***
Bài hát tôi màu tối
Như sóng vỗ dạt dào
Như đổ vào đâu đó
Như bay lên trời cao
Dịu êm và vội vã
Trẻ trung và xưa cũ
Cứ thế nối đuôi nhau.

Sub luna vivo.****
Cuộc đời tôi màu tối
Tẻ nhạt và tầm thường
Buồn bã hay hân hoan
Tôi đều đem chia sẻ
Khoái lạc và đau khổ
Của kiếp sống trần gian
Cho mình – tôi nhận đủ.

Sub luna morior.*****
Mộ của tôi màu tối
Liệu có chờ có đợi
Độ sâu của đại dương
Yên lặng của vĩnh hằng
Hay tro bụi mãi mãi
Như nỗi buồn tê tái
Bay thơ thẩn trên đồng.
____
*Yêu dưới trăng; **Uống dưới trăng; ***Hát dưới trăng; ****Sống dưới trăng; *****Chết dưới trăng.

Sub luna

Sub luna amo.
    Mörk är min brud, 
brinner i bruna kvällar,
    dansar i månglitterskrud, 
doftar som nattglim
    under en kornblixtsky, 
svalkar som morgondaggen,
    växlar som nedan och ny.

Sub luna bibo.
    Mörkt är mitt öl, 
svartmältat korn dess kärna,
    skummet som månglittermjöl. 
Tankar och löjen
    sväva kring kannans rund, 
sväva som läderlappar,
    sväva som guldlöv i lund.

Sub luna canto.
    Mörk är min sång, 
suckar som vågor i vassen,
    rullar som bränningens gång, 
reser sig trotsig,
    sjunker tillbaka tung, 
ebbar sin tid och flödar,
    gammal och kvalfullt ung.

Sub luna vivo.
    Mörkt är mitt liv, 
ringa och vanligt i öden,
    sorger och tidsfördriv. 
Gärna jag delar
    tingens förgängliga lott, 
lycklig att lida och njuta
    jordelivets fulla mått.

Sub luna morior.
    Mörk är min grav. 
Giv mig åt namnlös torva
    eller åt vind och hav: 
vilan i mullen,
    eller ett skärat stoft, 
fladdrande som min längtan
    fladdrat mot månklara loft.


THẾ GIỚI VI MÔ

Tôi là đất, mát mẻ và chậm chạp
Dù trẻ trung nhưng mập mạp và cùn
Ánh sáng mùa thu chiếu giữa cõi lòng
Chiếc lá vàng cất lên lời “vĩnh biệt”.

Tôi là nước, giá băng và ẩm ướt
Vẻ rình rang như nước mắt mùa đông
Niềm vui mạnh mẽ nhưng cũng vội vàng
Trên những bàn có rượu và có thịt.

Tôi là không khí, nhẹ nhàng trong suốt
Mặc áo quần tươi đẹp của mùa xuân
Một năm tươi vui cùng với màu xanh
Rồi lớn lên, dù đổi thay thời tiết.

Tôi là lửa, cháy lên và khô khát
Như bầu trời dưới ánh nắng mặt trời
Và thấy ngạc nhiên vì một điều này:
Ánh mặt trời không thể nào đốt hết.

Mikrokosmos

Jag är av jorden, jag är sval och tung,
trögvulen, gammalstämd fast ganska ung.
Det står ett gulnat höstträd i min själ,
dess alla grenar susa som farväl. 

Jag är av vattnet, jag är kall och våt,
min stela flegma är som frusen gråt.
Min vinterglädje bullrar stark men bråd,
vid fulla bord med vin och villebråd.

Jag är av luften, jag är ljus och blid,
jag går som i beständig lådingstid.
Vad långa år försummat och försönt
står upp vid vädrens lekar friskt och grönt.

Jag är av elden, jag är torr och het
av sommarsol som ingen nedgång vet.
Väl må jag undra att hon ej förbränt
mig själv med alla mina element.


BÀI CA SAU MÙA THU HOẠCH

Fridolin* đang nhảy múa ở đây
Trên đồng ruộng này có bình rượu ngọt
Có nước trái cây ép và có mùi lúa mạch
Có giai điệu ngọt ngào của đồng ruộng mê say. 
Chàng giữ chặt viền áo trên cánh tay
Nhảy bên cô gái có đôi mắt hờ khép
Nàng đỏ mặt, nghiêng người rồi ép sát 
Vào ngực chàng như người thuốc phiện say. 

Fridolin đang nhảy múa ở đây
Chàng say sưa nhớ về bao ký ức
Xưa ông nội, cha mình cũng từng nhảy nhót
Dưới tiếng vĩ cầm buồn – giờ đến lượt con trai.
Nhưng trong đêm nay họ đã ngủ yên rồi
Bàn tay xưa kéo đàn giờ đã không còn nữa
Cuộc sống và thời gian – chỉ tiếng xào xạc lá
Nơi có tiếng thở dài và tiếng động vui thôi.

Nhưng mà Fridolin đang nhảy ở nơi này!
Con cháu của các người mạnh mẽ và uyển chuyển
Với những người nông dân khác chàng trò chuyện
Không chỉ tiếng của mình, mà xen cả tiếng Latinh.
Lưỡi hái của chàng gặt trên đồng đất của cha ông
Chàng cũng vui mừng khi đổ lúa đầy kho đựng lúa
Khi nâng thúng lúa lên, chàng đã đùa rất vui vẻ
Với cô gái nông dân mặt ửng đỏ giống chị Hằng. 
_________________
*Fridolin - khái quát hóa hình ảnh của một người nông dân, nhân vật trong nhiều bài thơ của Karlfeldt.

Sång efter skördeanden

Här dansar Fridolin,
han är full av det söta vin,
av sin vetåkers frukt, sina bärmarkers saft,
av den vinande valsmelodin.
Se, med livrockens väldiga skört på sin arm
hur han dansar var flicka på balen varm,
tills hon lutar -- lik vallmon på slokande skaft --
så lycksaligen matt mot hans barm.

Här dansar Fridolin,
han är full av minnenas vin.
Här hugsvalades far och farfar en gång
av den surrande bondviolin.
Men nu soven I, gamle, i högtidens natt,
och den hand, som gned strängarna då, är nu matt,
och ert liv samt er tid är en susande sång,
som har toner av sucksamt och glatt.

Men här dansar Fridolin!
Sen er son, han är stark, han är fin,
och han talar med bönder på böndernas sätt
men med lärde män på latin.
Och hans lie går skarp i er nyodlings gull,
och han fröjdas som I, när hans loge står full,
och han lyfter sin mö som en man av er ätt
högt mot höstmånens röda kastrull.


ĐẠI PHONG CẦM MÙA ĐÔNG

Thánh đường của người thấp và tối tăm
Trong ngày Lễ Các Thánh!
Bài thánh ca mùa hè ngừng lặng
Giữa tháp chuông.
Bầu trời đen xé tấm áo choàng
Và rừng thưa ra từng mảnh
Thánh lễ trong lời đêm vang vọng:
Tất cả đều cát bụi, phù vân. 

Nhưng rồi bình minh đã trùm màu xanh
Lên mặt đất mênh mông
Một thế giới vững bền màu trắng
Từ cát bụi, phù vân.
Băng giá buổi tối xây những mái vòm
Với cả dãy ống bạc ròng lấp lánh
Thánh đường dựng lên theo ý mùa đông
Từ phù vân, bụi bặm. 

Và bây giờ những chiếc lá lặng ngừng
Đồng cỏ bây giờ trở nên im lặng
Hoa cỏ từ lâu không còn lên tiếng
Và cây dẻ gai cũng đã héo hon.
Nhưng thông trên đồi và trong thung lũng
Vẫn vi vu hòa nhạc đại phong cầm
Đấy là Thánh Cecilia* thử giọng
Bằng những cơn bão tuyết của Giáng sinh.

Bãi cỏ bên thánh đường
Hôm nay phủ đầy hoa huệ trắng
Tiếng của kèn đồng vang vọng
Ôi, thiếu nữ hãy ngân lên
Giọng nam trầm trang trọng hãy thêm
Giờ ông vua đi lên sân thượng
Đầy run rẩy và tuyết đang rơi xuống
Từ hành lang thiên đường. 

Thần Aeolus** luôn chuẩn bị sẵn sàng
Kéo những chiếc ống bằng da thổi gió
Và chiếc hòm đựng gió cho ngày lễ
Chỉ chờ có dịp mở toang. 
Thế rồi dịp năm mới với mảnh trăng non
Phương bắc như chiếc sừng chì nặng trĩu
Theo bước chân những người Đạo sĩ
Thổi tù và của những kẻ chăn chiên. 

Hỡi đại phong cầm, ta đến thánh đường
Của người hết lần này lượt khác
Ta là người đang tìm học cách
Nghe theo tiếng của phong cầm
Học cách chọn chiều rộng mênh mông
Sự lặng ngừng và tiếng ngân đầy ắp
Đi qua mùa đông đến ngày Sa-bát***
Để tìm ra sự ngơi nghỉ cho mình. 

Trên dàn đồng ca của bóng tối phương đông
Cháy lên từng ngọn nến
Dải ngân hà như màn sương nóng bỏng
Thổi căng những cánh buồm.
Khi còn chưa ló dạng ánh bình minh
Như hơi thở của sao – nghe rõ ràng tiếng động
Kỳ diệu và trong suốt như là kính
Vang lên ở xung quanh. 

Đêm như trong thuở đa thần giáo xa xăm
Bao trùm trên mặt đất
Và chiếc hòm đựng gió mở toang
Những ngọn gió ngang tàng, gào thét
Như những cây sồi già lung lay rồi đổ gục
Như tạp âm của bão tuyết quay vòng
Như hợp âm với hợp âm
Vang lên trái ngược. 

Tôi lắng nghe trong buổi chiều tím ngát
Giữa băng giá rừng dương
Tiếng của đàn vĩ cầm réo rắt
Làm cho bóng tối lan tràn
Và tiếng bài ca Thánh lễ ngân vang
Và giọng của cây liễu vươn mình lấy sức
Và tôi nghe ra tiếng cây đàn hạc
Trong rượu của bình minh. 

Trên tuyết cứng, với bình minh hồng
Mẹ Maria đi đến
Và mẹ đem thu dọn
Váy áo với màu hoa rừng.
Và mẹ nói: “Hãy rời phong cầm
Giờ là lúc nghỉ ngơi lấy sức.
Còn dàn đồng ca sặc sỡ, đầy màu sắc
Hãy gửi về xứ của mẹ cho nhanh”. 
__________

* Cecilia (Xi-xi-li-a) – nữ thánh đồng trinh và tử vì đạo trong thế kỷ III. Giáo hội Công giáo từ thế kỷ XVI coi bà là vị Thánh quan thầy của các nhạc sĩ sáng tác nhạc.
** Aeolus – theo Homer (trong tác phẩm Odýsseia), là vị thần cai quản gió, cha của 6 con trai và 6 con gái làm nên 6 cặp vợ chồng sống hạnh phúc trong cung điện của cha mình. 
*** Ngày Sa-bát (sabbath) – ngày thứ bảy theo đạo Do thái, ngày chủ nhật theo đạo Công giáo, là ngày nghỉ ngơi và thờ phụng Chúa.

Vinterorgel

Ditt tempel är mörkt och lågt är dess valv,

Allhelgonadag!
Där slocknar sommarens hymn som ett skalv
av klämtande slag.
Sin mantel river den svarta sky,
och lundarnas bleknade trasor fly,
och natten mässar om allt som är dött,
allt hö, allt kött.

Det dagas ånyo, det klarnar så vitt,

det blånar så vasst.
Det växer en värld ur förgängelsens mitt,
en vit och fast.
I frostiga kvällar skönjs en arkad
med pipor av silver i glittrande rad
nu reser vintern sitt orgelhus
ur mörker och grus.

Nu höves ej lövens lösa lek,

ej susande äng.
För svag är den saviga bågen, för vek
är blomstersträng.
Men furan på höjd och granen i dal
de ljuda alltjämt som en sträv principal:
Cecilia stämmer sitt instrument
till Guds advent.

Nu ligger det stora tempeltun

som en liljevret.
Drag an registren, drag dov bordun,
drag gäll trumpet.
Stäm upp för din konung, du stämmornas mö!
Han kommer på gången, den flingor beströ,
och stilla ekar ett svävande svall
från himmelens hall.

Tungt trampar Eol, alltid beredd,

sin flåsande bälg
och håller väderkistan försedd
från helg till helg.
Där väntar nordan på nyårsny
att stöta i smattrande horn av bly
och östan att följa med herdesång
de vises gång.

Du höga orgverk, jag är en man

i din menighet
och samlar din mångfald, så gott jag kan,
till enighet.
Nu lär min ande din egen ton,
den fulla klangen, den djupa ron,
att jag må gå som på sabbatsfärd
i min vintervärld.

Från tidig skymning, då lamporna tänts

i östligt kor
och vintergatans valvsegel spänts
av flammande flor,
det susar ibland intill gryningens väkt,
som stjärnornas lugna andedräkt,
en enda ton, en glasigt klar
och underbar.

En fimbulnatt som i hedenhös

med bävan jag hör,
när svällaren öppnas och blästern går lös
ur flöjtverk och rör.
Det skallar basun som i håligt trä
av knäckta ekar som sjunka på knä,
och stämmor dansa i vild mixtur
som rykande ur.

Jag vill gå ut en violbrun kväll

bland isig björk
och höra den strykande violoncell
som sväller mörk;
och jag vill höra i fastlagskoral
det växande visslet av salcional,
den första vårliga eolin
i morgonens vin -

till dess Maria går skär av sol

på skarens glans
och fäster kring skogens mörka kjol
en hasselfrans
och säger: "Syster, det töar från kvist.
Nu vila, du vita organist!
Av musikanter ett brokigt band
styr upp mot vårt land."